1. Có được xin ly hôn khi vợ chồng không có mâu thuẫn ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần luật sư tư vấn như sau: Tôi kết hôn được 8 năm rồi, tôi và chồng không có mâu thuẫn gì hết. Vợ chồng tôi sống chung với bố mẹ chồng và gia đình anh ,chị chồng. Tôi và bố mẹ chồng thỉnh thoảng có mâu thuẫn với nhau nên tôi đã đề nghị chồng chuyển ra ở riêng nhưng chồng tôi không đồng ý.
Tôi thấy sống chung như thế cũng không tốt cho cả hai nên tôi muốn ly hôn. Tôi muốn biết nếu làm hồ sơ thì tôi có phải xin giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng do tổ dân phố và phường xác nhận không( vì vợ chồng tôi không có mâu thuẫn gì hết). Hiện nay tôi đang làm việc tại trường mầm non công lập, còn chồng tôi làm bếp cho tư nhân và tôi biết chồng tôi hiện đang nợ ông bà ngoại và ngân hàng khoảng 65 triệu( đã 3 năm rồi) mới đây ngân hàng có gọi điện cho tôi để đòi nợ. Nếu ly hôn thì tôi muốn biết tôi có thể được nuôi con không vì cả hai vợ chồng tôi đều muốn nhận nuôi con ?
Rất mong nhận được câu trả lời của luật sư. Tôi xin cám ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn“. Theo đó, thì cả hai vợ chồng hoặc mình vợ, hoặc mình chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Như vậy, bạn có quyền đơn phương ly hôn mà không cần chồng đồng ý cũng như không cần chồng ký vào đơn xin ly hôn nhưng bạn phải chứng minh được mâu thuẫn của hai vợ chồng đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được.Trong trường hợp này bạn có quyền viết đơn xin ly hôn gửi đến Toà án cấp quận huyện, nơi chồng bạn hoặc bạn đang cư trú hoặc làm việc, để được thụ lý giải quyết.

1. Hồ sơ bao gồm:

- Đơn xin ly hôn, trình bày các vấn đề sau:

+ Về kết hôn: Ở đâu? Thời gian? Kết hôn có hợp pháp không? Mâu thuẫn xảy ra khi nào? Mâu thuẫn chính là gì? Vợ chồng có sống ly thân không? Nếu có thì sống ly thân từ thời gian nào tới thời gian nào?

+ Về con chung: Cháu tên gì? Sinh ngày tháng năm nào? Nay xin ly hôn chị có yêu cầu gì về giải quyết con chung (có xin được nuôi cháu không, Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cháu như thế nào)?

+ Về tài sản chung: Có những tài sản gì chung? có giấy tờ kèm theo (nếu có). Nếu ly hôn chị muốn giải quyết tài sản chung như thế nào?

+ Về nợ chung: Có nợ ai không? có ai nợ vợ chồng không? Tên, địa chỉ và số nợ của từng người? Chị muốn giải quyết như thế nào?

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì chị phải xin xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký kết hôn.

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của nguyên đơn và bị đơn;

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của nguyên đơn và bị đơn;

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…

- Bản sao giấy khai sinh của các con.

2. Vấn đề nuôi con sau khi ly hôn

Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: "Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.".

Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn: Điều 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định:

"Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.".

Về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con khi ly hôn

Điều 110, điều 116 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. ".

Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thoả thuận. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà Tòa án quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý. Phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Không có hộ khẩu trong gia đình có được quyền hưởng di sản thừa kế không ?

2. Hướng dẫn soạn thảo và chuẩn bị hồ sơ ly hôn ?

Thưa Luật sư, Em và vợ em kết hôn được 3 năm và có hai con , đến nay cô ấy và em không hợp nhau nên cô ấy đưa 2 con bỏ nhà đi mang theo giấy đăng ký kết hôn và giấy khai sinh của con , bây giờ em không biết làm thế nào? Vậy em xin hỏi thủ tục ly hôn không có giấy đăng ký kết hôn và giấy khai sinh của con em thì có làm thủ tục ly hôn được không ạ ?
Em xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

1. Thứ nhất về hồ sơ ly hôn khi thiéu giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, giấy khai sinh"

Căn cứ Điều 6 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm" của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định như sau:

"Điều 6. Tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện quy định tại Điều 165 của BLTTDS

Về nguyên tắc, khi gửi đơn khởi kiện cho Toà án, người khởi kiện phải gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ để chứng minh họ là người có quyền khởi kiện và những yêu cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, trong trường hợp vì lý do khách quan nên họ không thể nộp ngay đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, thì họ phải nộp các tài liệu, chứng cứ ban đầu chứng minh cho việc khởi kiện là có căn cứ. Các tài liệu, chứng cứ khác, người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Toà án trong quá trình giải quyết vụ án.

Ví dụ 1: Khi gửi đơn khởi kiện cho Toà án yêu cầu giải quyết ly hôn (có đăng ký kết hôn hợp pháp), nuôi con, chia tài sản, thì về nguyên tắc người khởi kiện phải gửi kèm theo đầy đủ các tài liệu, chứng cứ về quan hệ hôn nhân, con, tài sản chung của vợ chồng; nếu họ chưa thể gửi đầy đủ các tài liệu, chứng cứ này, thì cùng với đơn khởi kiện, họ phải gửi bản sao giấy đăng ký kết hôn, bản sao giấy khai sinh của con (nếu có tranh chấp về nuôi con).

Ví dụ 2: Khi gửi đơn khởi kiện cho Toà án yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng, thì người khởi kiện phải gửi kèm theo bản sao hợp đồng có tranh chấp, hoá đơn thanh toán tiền, nhận tài sản, biên bản thanh lý,…; nếu họ chưa thể gửi đủ các tài liệu, chứng cứ này, thì cùng với đơn khởi kiện họ phải gửi bản sao hợp đồng."

Như vậy khi làm đơn ly hôn thì bạn phải nộp tài liệu chứng cứ kèm theo trong trường hợp bạn chưa thể có bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, giấy khai sinh của con thì bạn cần cung cấp bản sao các giấy tờ trên cho Tòa án.

Thứ hai về vấn đề cấp bản sao giấy t trên như sau:

Căn cứ khoản 6, khoản 7 Điều 2 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch

"6. “Bản sao” là bản chụp từ bản chính hoặc bản đánh máy có nội dung đầy đủ, chính xác như nội dung ghi trong sổ gốc.

7. “Sổ gốc” là sổ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền lập ra khi thực hiện việc cấp bản chính theo quy định của pháp luật, trong đó có nội dung đầy đủ, chính xác như bản chính mà cơ quan, tổ chức đó đã cấp."

Căn cứ khoản 1, khoản 5, khoản 9 Điều 4 Luật số 60/2014/QH13 của Quốc hội : LUẬT HỘ TỊCH:

"1. Cơ quan đăng ký hộ tịch là Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã), Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp huyện), Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi là Cơ quan đại diện).

5. Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch gồm cơ quan đăng ký hộ tịch, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và cơ quan khác được giao thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

9. Trích lục hộ tịch là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp nhằm chứng minh sự kiện hộ tịch của cá nhân đã đăng ký tại cơ quan đăng ký hộ tịch. Bản chính trích lục hộ tịch được cấp ngay sau khi sự kiện hộ tịch được đăng ký. Bản sao trích lục hộ tịch bao gồm bản sao trích lục hộ tịch được cấp từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch và bản sao trích lục hộ tịch được chứng thực từ bản chính."

Căn cứ Điều 63, 64 Luật hộ tịch năm 2014:

"Điều 63. Cấp bản sao trích lục hộ tịch về sự kiện hộ tịch đã đăng ký

Cá nhân không phụ thuộc vào nơi cư trú có quyền yêu cầu Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch cấp bản sao trích lục hộ tịch về sự kiện hộ tịch của mình đã được đăng ký.

Điều 64. Thủ tục cấp bản sao trích lục hộ tịch

1. Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch trực tiếp hoặc thông qua người đại diện gửi tờ khai theo mẫu quy định cho Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch.

Trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đề nghị cấp bản sao trích lục hộ tịch của cá nhân thì gửi văn bản yêu cầu nêu rõ lý do cho Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch.

2. Ngay sau khi nhận được yêu cầu, nếu đủ điều kiện thì Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch cấp bản sao trích lục hộ tịch cho người yêu cầu."

Căn cứ khoản 2 Nghị định 123/2015/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch:

"Điều 2. Quy định về xuất trình, nộp giấy tờ khi đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch

1. Người yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân.

Trong giai đoạn chuyển tiếp, người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nơi cư trú."

Như vậy, từ những căn cứ trên trong trường hợp này bạn yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã không phụ thuộc vào nơi cư trú cấp bản sao trích lục các giấy tờ trên. Việc yêu cầu trên của bạn cần kèm theo các giấy tờ:

+Tờ khai( Mẫu Thông tư 15/2015/TT-BTP)

+ Bản chính hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh

+ Thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế mới nhất và Phân chia di sản thừa kế ?

3. Không đăng ký kết hôn mà muốn ly hôn thì phải làm thế nào?

Tôi chào luật sư! Tôi và chồng tôi sống với nhau đến nay đã có với nhau 2 người con. Bây giờ chúng tôi bất đồng quan điểm nên không muốn chung sống nữa và muốn ly hôn. Nhưng chúng tôi không có đăng ký kết hôn thì phải làm như thế nào?
Cảm ơn!

Không đăng ký kết hôn mà muốn ly hôn thì phải làm thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn trình bày là hai bạn chưa có đăng ký kết hôn nên trong trường hợp này hai bạn được coi là chung sống như vợ chồng. Do bạn không ghi rõ thời gian cụ thể mà hai bạn kết hôn là khi nào nên chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn theo hai trường hợp.

Nam và nữ được coi là chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;

- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;

- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Trường hợp 1: Chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987

Theo quy định của pháp luật, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà không đăng ký kết hôn thì vẫn được coi là vợ chồng. Do đó việc ly hôn sẽ được giải quyết theo thủ tục ly hôn thông thường theo quy định của pháp luật.

Trường hợp 2: Chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn mà chưa đăng ký kết hôn và đang chung với nhau như vợ chồng thì họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003. Ở đây cũng có hai trường hợp xảy ra:

- Kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003 nếu họ chưa đăng ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn thì vụ án ly hôn này sẽ được giải quyết theo thủ tục chung theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình.

- Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì họ không được công nhận là vợ chồng, nếu một trong hai bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và giải quyết bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng.

Trường hợp 3: Nam nữ chung sống như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 mà không đăng ký kết hôn

Trong trường hợp này họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu một trong các bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và giải quyết và tuyên bố họ không được công nhận là vợ chồng.

Trong những trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà tòa án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng khi họ có yêu cầu ly hôn thì vấn đề tài sản và quyền nuôi con sẽ do hai bên thỏa thuận, nếu như các bên không thỏa thuận được thì sẽ áp dụng Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

"1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

3. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này."

Về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

4. Ly hôn và phân chia tài sản khi chồng đã bị công an bắt ?

Kính gửi luật sư, Tôi xin đc giới thiêu tên tôi là Nguyễn Mạnh. Năm nay 38tuổi. Trước hết tôi xin có lời kính chúc luật sư sức khỏe, bình an và hạnh phúc. Chúc luật sư thành công trên con đường công lý.

Sau đây tôi xin luật sư hãy bớt chút thời gian tư vấn giúp cho chị gái tôi đang có một vấn đề khá khó khăn và chưa tìm đc lối đi. Chị tôi sinh năm 77 năm 2005 chị kết hôn và được nhà chồng cho hai vợ chồng một mảnh đất. Khi làm sổ đỏ sang tên thì hai vợ chồng anh chị tôi đứng tên chủ sở hữu mảnh đất đó. Đến năm 2010 anh chị tôi xây nhà trên mảnh đất đó, sau khi xây nhà xong, chồng chị tôi đã bị bắt vì can án ma túy.

Khi chồng chị tôi bị bắt thì với biết chồng chị ấy đã mang sổ đỏ đi Cầm Đồ để lấy một khoản tiền là 175 triệu. Sau khi chồng chị tôi bị bắt thì bên Cầm Đồ đến ép chị tôi trả nợ và chị tôi phải bán mảnh đất và căn nhà đó với giá 600triệu. Cầm 600triệu trong tay, chị tôi đã trả cho bên Cầm Đồ cả vốn lẫn lãi là 300triệu. Số còn lại chị tôi và chồng chị ấy gửi mẹ chồng chị ấy (mẹ chồng ở cùng vợ chồng chị tôi) để chờ thời cơ mua mảnh đất khác để lấy chỗ cho gia đình ở.

Nhưng từ năm 2011 đến nay, chồng chị tôi và mẹ chồng chị ấy đã tự ý thanh toán hết số nợ của chồng chị tôi mà ko thông qua chị tôi. Đến nay, chị tôi quyết định gửi đơn ra tòa án xin ly hôn thì mẹ chồng chị ấy nói rằng số tiền 300triệu còn lại đã thanh toán công nợ hết rồi.( việc này chị tôi ko được thông qua) Vậy tôi xin luật sư tư vấn giúp việc làm của mẹ chồng chị tôi là đúng hay sai? Khi tòa giải quyết ly hôn thì số phận tài sản còn lại đó sẽ ra sao? Và luật sư có phương án nào để chị tôi đc hưởng phần quyền lợi của mình? ( vợ chồng chị tôi đã có một đứa con, hiện nay đang tạm sống với chị tôi)

Thay mặt gia đình tôi chân thành cảm ơn luật sư và mong sớm nhận đc hồi âm của luật sư!

Người hỏi: Mạnh Nguyễn

Trả lời:

Về yêu cầu xin ly hôn:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 51, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.

Trường hợp hai vợ chồng chị bạn thuận tình li hôn Tòa án sẽ căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết

Điều 55. Thuận tình li hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Trường hợp, chị bạn hoặc chồng của chị bạn đưa ra yêu cầu ly hôn Tòa án sẽ căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Có thể thấy rằng, trong trường hợp của chị bạn số tiền 300 triệu còn lại sau khi đã thanh toán nợ cho chồng được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt với số tiền đó do vợ chồng thỏa thuận. Bởi vậy, việc mẹ chồng dùng số tiền đó để thanh toán khoản nợ khi chưa có sự đồng ý của chị bạn là trái với quy định của pháp luật. Vậy nên, mẹ chồng của chị bạn có nghĩa vụ thanh toán số tiền 300 triệu đó cho 2 vợ chồng chị bạn. Số tiền đó được giải quyết theo:

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

5. Chưa ly hôn với vợ cũ thì chồng có được kết hôn không ?

Thưa luật sư, đang tiến hành ly hôn mà chồng đã tổ chức lễ cưới với người khác thì có phạm luật không ? Mong luật sư hướng dẫn!

Trả Lời:

Thủ tục ly hôn bao gồm:

1. Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn về hộ khẩu và chữ ký của bạn. Trong đơn bạn cần trình bày các vấn đề sau:

- Về kết hôn: Ở đâu? Thời gian? Kết hôn có hợp pháp không? Mâu thuẫn xảy ra khi nào? Mâu thuẫn chính là gì? Vợ chồng có sống ly thân không? Nếu có thì sống ly thân từ thời gian nào tới thời gian nào?

- Về con chung: Cháu tên gì? Sinh ngày tháng năm nào? Nay xin ly hôn chị có yêu cầu gì về giải quyết con chung (có xin được nuôi cháu không, Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cháu như thế nào)?

- Về tài sản chung: Có những tài sản gì chung? có giấy tờ kèm theo (nếu có). Nếu ly hôn chị muốn giải quyết tài sản chung như thế nào?

- Về nợ chung: Có nợ ai không? có ai nợ vợ chồng không? Tên, địa chỉ và số nợ của từng người? Chị muốn giải quyết như thế nào?

2. Bản sao Giấy khai sinh của các con;

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của cả 2 vợ chồng

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì phải xin xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký kết hôn.

Về vấn đề chia tài sản sau khi ly hôn

Căn cứ theo Luật hôn nhân gia đình quy định:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
...

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

Về vấn đề chia con chung khi ly hôn:

Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

"Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;"

Vậy đối với đơn phương ly hôn thì phải nộp hồ sơ tại TAND cấp huyện nơi mà người còn lại cư trú. Còn ly hôn thuận tình thì có thể yêu cầu giải quyết tại TAND cấp huyện nơi chồng hoặc vợ cư trú đều được.

Thưa luật sư, xin hỏi: Trước đây tôi đã kết hôn .nhưng vì vợ chồng tôi có chút mâu thuẫn nên đã ly thân nhau được 2 năm nay rùi .nhưng chúng tôi chưa giải quyết ly hôn vậy mà chồng tôi đã đi lấy vợ nữa .nếu tôi muốn làm đơn kiện anh ta để dành lại quyền nuôi con thì có đc không hả luận sư .và tôi cần phải làm sao mới đúng ạ?

=> Luật hôn nhân gia đình quy định:

"2. Cấm các hành vi sau đây:
...
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;"

Vậy chồng bạn khi chưa ly hôn với bạn mà lại tiến hành kết hôn với người khác tức là vi phạm pháp luật. Bạn có thể yêu cầu ly hôn và giành quyền nuôi con khi chứng minh chồng bạn không có đủ khả năng giáo dục con và đã vi phạm pháp luật.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi muốn giành quyền nuôi con sau ly hôn,nhưng tôi không thu nhập ổn định,chồng tôi hay đi làm xa nhưng có lương

=> Trường hợp này khi xét đến khả năng nuôi con thì sẽ xét đên cả 2 yếu tố là khả năng giáo dục và khả năng tài chính. Trường hợp cha mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

Thưa luật sư, xin hỏi: Chi phí cho 1 lá đơn là bao nhiêu trong trường hợp không có việc làm thì có được bỏ qua phân trợ cấp không tài sản không có gì chỉ có chiếc xe máy của bố nhưng lại đứng tên tôi thì chiếc xe đó có bị phân chia không yêu cầu ly hôn không hòa giải có được không

=> Án phí khi yêu cầu ly hôn mà không có tranh chấp về tài sản là 300.000 đồng.

Trường hợp không có việc làm nhưng nghĩa vụ trợ cấp nuôi con bạn vẫn phải thực hiện.

Tài sản là xe máy của bố nhưng đứng tên bạn hình thành trong quá trình hôn nhân thì được coi là tài sản chung. Bạn phải có bằng chứng chứng minh là chiếc xe bố bạn cho riêng bạn thì đây sẽ là tài sản riêng nên không cần chia khi ly hôn.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em đã kết hôn được gần 2 năm và có con chung được 5 tháng tuổi, do không làm đâu được và hay có mâu thuẫn nên e muốn ly hôn và có gjanh quyền nuôi con cũng như ly hôn có được không ạ ?

=> Bạn có thể yêu cầu ly hôn và hiện nay con bạn dưới 36 tháng tháng tuổi thì người mẹ sẽ là người giành được quyền trực tiếp nuôi con.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?