- 1. Điều kiện để hưởng chế độ ốm đau khi con ốm? Con bao nhiêu tuổi thì được hưởng chế độ ốm đau khi chăm con?
- 2. Thời gian nghỉ chăm con ốm theo quy định mới nhất
- 2.1. Thời gian hưởng chế độ ốm đau khi chăm con theo độ tuổi của con
- 2.2. Quyền lợi độc lập của cha và mẹ khi cùng tham gia bảo hiểm xã hội
- 2.3. Phương thức tính ngày nghỉ hưởng chế độ và ý nghĩa thực tiễn
- 3. Thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau có phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động hay không?
- Kết luận
Trong bối cảnh chính sách an sinh xã hội không ngừng được hoàn thiện, chế độ nghỉ chăm con ốm là một trong những quyền lợi quan trọng giúp người lao động cân bằng giữa công việc và trách nhiệm gia đình. Quy định mới nhất của Luật Bảo hiểm xã hội 2024, có hiệu lực từ 01/7/2025, đã cụ thể hoá về thời gian nghỉ và điều kiện hưởng chế độ khi người lao động phải tạm gác công việc để chăm sóc con bị ốm, thể hiện sự quan tâm của pháp luật đối với đời sống của từng gia đình lao động.
1. Điều kiện để hưởng chế độ ốm đau khi con ốm? Con bao nhiêu tuổi thì được hưởng chế độ ốm đau khi chăm con?
Theo điểm a khoản 1 điều 42 Luật bảo hiểm xã hội 2024 quy định như sau:
1. Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này được hưởng chế độ ốm đau khi nghỉ việc thuộc một trong các trường hợp sau đây, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này:
......
e) Chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau
.......
Như vậy, có thể khẳng định rằng người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ ốm đau trong trường hợp phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau. Điều kiện quan trọng để phát sinh quyền hưởng chế độ này là người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định, đồng thời việc nghỉ việc xuất phát từ nhu cầu trực tiếp chăm sóc con khi con bị ốm và chưa đủ 07 tuổi.
Như vậy, độ tuổi của con là căn cứ pháp lý mang tính quyết định trong việc xác định quyền hưởng chế độ ốm đau khi chăm con, theo đó chỉ những trường hợp con chưa đủ 07 tuổi mới thuộc phạm vi điều chỉnh của chế độ này. Khi con từ đủ 07 tuổi trở lên, dù thực tế có thể vẫn cần sự chăm sóc của cha hoặc mẹ, thì người lao động cũng không thuộc diện được hưởng chế độ ốm đau theo quy định. Quy định này thể hiện quan điểm của pháp luật về việc ưu tiên bảo vệ trẻ em ở độ tuổi còn nhỏ, có sức đề kháng yếu và phụ thuộc nhiều vào sự chăm sóc trực tiếp của cha mẹ, đồng thời bảo đảm sự thống nhất, rõ ràng trong việc áp dụng chế độ ốm đau đối với người lao động.
- Đối tượng được hưởng chế độ ốm đau khi nghỉ việc bao gồm:
Điều 2. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện
1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên;
b) Cán bộ, công chức, viên chức;
c) Công nhân và viên chức quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;
d) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
...
i) Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã có hưởng tiền lương;
k) Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố;
l) Đối tượng quy định tại điểm a khoản này làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất;
m) Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh tham gia theo quy định của Chính phủ;
n) Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã không hưởng tiền lương.
2. Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam, trừ các trường hợp sau đây:
a) Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam;
b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động;
c) Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
2. Thời gian nghỉ chăm con ốm theo quy định mới nhất
2.1. Thời gian hưởng chế độ ốm đau khi chăm con theo độ tuổi của con
Khoản 1 điều 44 Luật bảo hiểm xã hội 2024 quy định thời gian hưởng chế độ ốm đau khi người lao động nghỉ việc để chăm sóc con bị ốm dựa trên độ tuổi của con, bởi ở mỗi giai đoạn phát triển, trẻ em có mức độ phụ thuộc và nhu cầu chăm sóc khác nhau. Cách phân loại này nhằm bảo đảm sự chăm sóc phù hợp với đặc điểm sinh lý, sức khỏe của trẻ, đồng thời cân đối giữa quyền lợi của người lao động và khả năng chi trả của Quỹ bảo hiểm xã hội.
Cụ thể, đối với con dưới 03 tuổi, đây là giai đoạn trẻ có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, khả năng tự chăm sóc gần như không có và phụ thuộc hoàn toàn vào cha mẹ. Do đó, cho phép người lao động được nghỉ việc để chăm sóc con tối đa 20 ngày làm việc trong một năm cho mỗi con. Thời gian này được xem là cần thiết để cha hoặc mẹ có thể trực tiếp theo dõi, chăm sóc và điều trị cho con khi ốm đau.
Đối với con từ đủ 03 tuổi đến dưới 07 tuổi, tuy khả năng tự chăm sóc của trẻ đã được cải thiện phần nào, nhưng trẻ vẫn cần sự hỗ trợ và giám sát chặt chẽ của người lớn khi mắc bệnh. Vì vậy, người lao động vẫn được hưởng chế độ ốm đau khi chăm con, nhưng với thời gian ngắn hơn, tối đa 15 ngày làm việc trong một năm cho mỗi con. Việc giảm số ngày nghỉ trong trường hợp này phản ánh sự điều chỉnh hợp lý của pháp luật theo mức độ phụ thuộc của trẻ ở từng độ tuổi.
Cần lưu ý rằng thời gian nghỉ hưởng chế độ này được tính theo năm dương lịch, từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 hằng năm. Trong trường hợp người lao động có từ hai con trở lên cùng dưới 07 tuổi bị ốm đau trong năm, thì thời gian nghỉ hưởng chế độ được tính riêng cho từng con, mỗi con áp dụng theo hạn mức tương ứng với độ tuổi của mình. Quy định này bảo đảm quyền lợi đầy đủ cho người lao động trong những gia đình có nhiều con nhỏ, đồng thời phản ánh đúng thực tế nhu cầu chăm sóc tăng lên trong các trường hợp này.
2.2. Quyền lợi độc lập của cha và mẹ khi cùng tham gia bảo hiểm xã hội
Theo khoản 2 Điều 44 Luật bảo hiểm xã hội 2024 thì Chế độ ốm đau khi chăm con là việc xác lập quyền lợi độc lập cho cả cha và mẹ trong trường hợp cả hai cùng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Theo đó, thời gian hưởng chế độ của người cha và người mẹ không phụ thuộc và không trừ lẫn nhau.
Cụ thể, nếu cả cha và mẹ đều đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì mỗi người đều có quyền nghỉ việc để chăm sóc con bị ốm trong phạm vi số ngày tối đa theo quy định, căn cứ vào độ tuổi của con. Người cha có thể nghỉ đủ số ngày theo hạn mức và người mẹ cũng có thể nghỉ đủ số ngày theo hạn mức, dù cùng chăm sóc một đứa con. Quy định này tạo điều kiện cho gia đình linh hoạt trong việc phân công chăm sóc con, đặc biệt trong trường hợp con ốm nặng, cần sự chăm sóc luân phiên hoặc đồng thời của cả cha và mẹ.
Ngoài ý nghĩa bảo đảm quyền lợi cho người lao động, quy định này còn góp phần thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình và trong quan hệ lao động, khi người cha được pháp luật ghi nhận vai trò bình đẳng trong việc chăm sóc con cái, không chỉ giới hạn trách nhiệm này cho người mẹ như trước đây.
2.3. Phương thức tính ngày nghỉ hưởng chế độ và ý nghĩa thực tiễn
Theo khoản 3 điều 44 Luật bảo hiểm xã hội 2024 thì Khác với một số chế độ bảo hiểm xã hội khác, thời gian nghỉ để chăm sóc con ốm đau được tính theo ngày làm việc, thay vì tính theo ngày dương lịch. Theo đó, chỉ những ngày mà người lao động lẽ ra phải đi làm theo chế độ làm việc của đơn vị mới được tính vào thời gian hưởng chế độ.
Cụ thể, không tính vào thời gian nghỉ hưởng chế độ các ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết theo quy định của pháp luật, cũng như các ngày nghỉ hằng tuần như thứ Bảy, Chủ nhật (hoặc các ngày nghỉ hằng tuần khác theo quy chế làm việc của đơn vị). Việc loại trừ các ngày nghỉ này nhằm bảo đảm sự thống nhất với nguyên tắc bù đắp thu nhập của chế độ ốm đau, bởi trong những ngày đó người lao động vốn không phát sinh nghĩa vụ lao động và không bị mất thu nhập.
Theo đó, cách tính này giúp người lao động được hưởng trọn vẹn quyền lợi vào những ngày thực sự phải nghỉ làm để chăm con, qua đó tối ưu hóa mức trợ cấp nhận được từ Quỹ bảo hiểm xã hội. Đồng thời, quy định này cũng góp phần bảo đảm việc sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội một cách hợp lý, đúng mục đích và công bằng giữa các đối tượng tham gia.
3. Thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau có phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động hay không?
Theo điểm a khoản 2 điều 4 Thông tư 88/2025/TT-BCA quy định như sau:
Điều 4. Thời gian hưởng chế độ ốm đau
...
2. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư này thực hiện theo quy định tại Điều 44 Luật Bảo hiểm xã hội và khoản 2 Điều 10 Nghị định số 157/2025/NĐ-CP, trong đó:
a) Thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau tối đa trong năm quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật Bảo hiểm xã hội không phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động;
Theo đó, thời gian hưởng chế độ khi người lao động nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau tối đa trong năm không phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội. Điều này có nghĩa là dù người lao động tham gia bảo hiểm xã hội từ đầu năm hay mới bắt đầu tham gia trong năm, thì khi đáp ứng đủ điều kiện hưởng chế độ, người lao động vẫn được hưởng đầy đủ số ngày nghỉ tối đa theo hạn mức pháp luật quy định.
Quy định này phản ánh bản chất bảo vệ của chế độ ốm đau khi chăm sóc con, nhằm hỗ trợ người lao động kịp thời trong những tình huống phát sinh ngoài ý muốn liên quan đến sức khỏe của con cái. Việc không gắn quyền hưởng với thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội giúp bảo đảm người lao động không bị thiệt thòi trong các trường hợp chuyển việc, gián đoạn quá trình làm việc hoặc mới gia nhập thị trường lao động nhưng vẫn có trách nhiệm chăm sóc con nhỏ.
Đồng thời, quy định này còn bảo đảm sự công bằng giữa các người lao động trong cùng một năm hưởng chế độ, tránh tình trạng quyền lợi bị phân chia theo thời gian tham gia dài hay ngắn. Qua đó, chính sách bảo hiểm xã hội thể hiện rõ tính nhân văn, linh hoạt và mục tiêu ưu tiên bảo vệ quyền lợi của người lao động và trẻ em trong những hoàn cảnh cần được chăm sóc đặc biệt.
Kết luận
Chế độ nghỉ chăm con ốm theo quy định mới không chỉ là một quyền lợi đơn thuần mà còn phản ánh giá trị nhân văn sâu sắc trong chính sách an sinh xã hội của Việt Nam. Việc Nhà nước ban hành các điều khoản cụ thể về thời gian nghỉ hưởng trợ cấp — 20 ngày làm việc cho trẻ dưới 3 tuổi và 15 ngày làm việc cho trẻ từ 3 đến dưới 7 tuổi trong một năm — đã giúp người lao động giảm bớt gánh nặng lo toan khi con ốm mà vẫn đảm bảo nguồn thu nhập cần thiết trong thời gian chăm sóc con. Đồng thời, những quy định linh hoạt về cách tính ngày nghỉ, cách xác định quyền lợi khi cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, hay khi có nhiều con nhỏ cùng mắc bệnh… đều thể hiện sự thấu hiểu và tạo điều kiện tối đa cho người lao động cân bằng giữa công việc và gia đình
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.