1. Đi xuất khẩu lao động có phải đặt cọc không ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê. Tôi là N.K.Đ. Tôi đang có dự dịnh xuất khẩu lao động nhật bản theo dạng kỹ thuật viên. Tôi có tham khảo qua các trung tâm thì thấy rằng tiền lệ phí đi là khoảng từ 3000 -5000 USD. Hầu hết các trung tâm đều yêu cầu tiền ký gửi nhưng có những trung tâm yêu cầu ngoài tiền ký gửi phải đặt thêm sổ đỏ.
Vậy tôi muốn hỏi những trung tâm yêu cầu nộp sổ đỏ thì có đúng quy định pháp luật không? Và theo điều khoản nào?
Cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động, gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài:

Theo Điều 6 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2006 :

"Các hình thức đi làm việc ở nước ngoài. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo một trong các hình thức sau đây: Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;"

Theo Điều 27 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2006 : Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp dịch vụ.

"1. Doanh nghiệp dịch vụ có các quyền sau đây:

a) Thực hiện hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; tổ chức tuyển chọn người lao động tại các địa phương;

b) Ký kết hợp đồng cung ứng lao động với bên nước ngoài, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người lao động, hợp đồng bảo lãnh với người bảo lãnh trước khi người lao động đi làm việc ở nước ngoài;"

Khoản 3 Điều 3 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2006 quy định:

“3. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp với người lao động về quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài."

2. Doanh nghiệp thu tiền môi giới của người lao động có đúng không ?

Theo quy định tại khoản 2 mục V Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH:

"2. Ký Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (điểm b khoản 1 Điều 27 của Luật):

a) Doanh nghiệp dịch vụ ký hợp đồng với người lao động ít nhất năm ngày trước khi người lao động xuất cảnh và chịu trách nhiệm quản lý hồ sơ của người lao động;

b) Doanh nghiệp dịch vụ chỉ được thu tiền dịch vụ và tiền môi giới của người lao động sau khi ký Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người lao động và người lao động được phía nước ngoài chấp nhận vào làm việc hoặc cấp thị thực nhập cảnh (visa)."

Như vậy, doanh nghiệp dịch vụ chỉ được thu tiền dịch vụ và tiền môi giới của người lao động sau khi ký Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người lao động và người lao động được phía nước ngoài chấp nhận vào làm việc hoặc cấp thị thực nhập cảnh.

Còn về khoản tiền ký gửi mà bạn nói đến nó được hiểu như một khoản tiền đặt cọc để đảm bảo thực hiện hợp đồng. Thông thường sau khi kết thúc hợp đồng bạn về nước thì trung tâm dịch vụ có nghĩa vụ hoàn trả cho bạn. Khoản tiền ký gửi là sự thảo thuận giữa hai bên công ty đưa người lao động đi làm việc và người lao động, pháp luật không cấm thỏa thuận này.

3. Doanh nghiệp thu sổ đỏ của người lao động để đặt cọc có đùng luật không ?

Theo thông tin bạn cung cấp thì các trung tâm hiện nay ngoài khoản tiền ký gửi thì các trung tâm còn yêu cầu bạn phải ký gửi thêm cả sổ đỏ. Yêu cầu này đang trái quy định của pháp luật do pháp luật hiện hành đã quy định rõ là người sử dụng lao động không được quyền giữ các giấy tờ gốc của người lao động, cụ thể tại Điều 17 Bộ luật lao động 2019 quy định:

"Điều 17. Hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động

1. Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

3. Buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động."

Doanh nghiệp dịch vụ không có quyền yêu cầu người lao động phải nộp sổ đỏ để đặt cọc. Nếu doanh nghiệp yêu cầu bạn nộp bạn là trái pháp luật và bạn có quyền từ chối nộp sổ, trường hợp doanh nghiệp gây khó dễ cho bạn thì bạn có quyền làm đơn khiếu nại lên cơ quan có thẩm quyền để giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tranh chấp về hợp đồng đặt cọc được giải quyết như thế nào ?

2. Tư vấn rút tiền đặt cọc đi xuất khẩu lao động ?

Thưa luật sư! Trước tiên cho tôi gửi lời chào tới quí công ty và mong công ty luôn giải thích kiến thức pháp luật cho công dân chúng được hiểu rõ. Tôi xin trình bày sự việc như sau: Vào tháng 4_2016 tôi có cọc 10 triệu cho cty XKLD để thi đơn hàng kỹ thuật viên lao động nhật bản.
Sau khi hoàn thành tất cả các thủ tục giấy tờ nhưng tôi đã thi trượt và đã làm đơn xin rút lại tiền cọc, sau khi công ty trừ chi phí hết đi thì hóa đơn công ty trả lại tôi còn 9.300.000d. 3 tháng sau khi tôi được hẹn lên công ty lấy tiền thì giám đốc trung tâm và kế toán chỉ trả tôi 5 triệu với lý tôi bỏ đơn hàng. Tôi không đồng ý với số tiền được nhận về và đã liên lạc với giám đốc trung tâm và anh ta nói tôi làm lại đơn xin rút, và hẹn 1 tuần sẽ chuyển khoản cho tôi và tôi đã làm theo. Nhưng đến giờ cũng hơn 1 tháng mà chưa thấy, tôi có liên lạc lại cho giám đốc và kế toán thì họ luôn dồn đẩy trách nhiệm và kéo dài thời gian, thời gian gần đây thì họ không nghe máy nữa. Khi tôi hỏi được kế toán thì chị ta trả lời là giám đốc cty đã họp hội đồng và sẽ không trả lại tiền cho tôi nữa. Khi tôi hỏi lý do thì kế toán nói cô ta không biết.
Vậy luật sư cho tôi hỏi theo luật lao động thì công ty đã làm đúng chưa và hành động của công ty có phải dấu hiệu lừa đảo không? Và xin hỏi luật sư bây giờ làm thế nào để tôi có thể lấy lại tiền cọc của mình?
Mong có câu trả lời sớm từ luật sư, 1 lần nữa xin cảm ơn quí công ty.

Tư vấn rút tiền đặt cọc đi xuất khẩu lao động ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến gọi : 1900.6162

Trả lời:

Theo như nội dung mà bạn trình bày thì bạn muốn rút lại số tiền đặt cọc, sau khi đã trừ hết chi phí thì số tìen còn lại là 9.300 000, nhưng bạn chỉ nhận được 5000.000, còn thiếu 4.300 000 . Nếu theo như hợp đồng ban đầu mà hai bên đã giao kết bạn có quỳên rút lại tiền đặt cọc sau khi đã trừ hết chi phí. giám đốc công ty XKLĐ cũng đã đồng ý trả lại hết số tiền này nhưng khi hết thời gian thực hiện nghĩa vụ trả lại tiền mà công ty vẫn chưa trả lại tiền cho bạn. Trong trường hợp này, công ty XKLĐ đã vi phạm theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015như sau:

"Điều 353. Chậm thực hiện nghĩa vụ

1. Chậm thực hiện nghĩa vụ là nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện hoặc chỉ được thực hiện một phần khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết.

2. Bên chậm thực hiện nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền về việc không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn."

Theo đó, công ty đó sẽ phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định sau:

"Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền."

Với quy định trên và như đã thỏa thuận thì 1 tuầu sau khi bạn nộp đơn xin rút tiền đặt cọc thì công ty sẽ phải hoàn trả lại đầu đủ số tiền đặt cọc ( 9.300 000) ban đầu lại cho bạn. Nếu công ty này vẫn không hoàn tiền đặt cọc lại cho bạn, bạn có quyền khởi kiện ra trước tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình.

Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại..."

Như vậy, trường hợp này chưa có dấu hiệu lừa đảo, không có thủ đoạn gian dối, giám đốc công ty đã đồng ý trả hết số tiền còn lại cho bạn, nhưng chậm thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, chỉ chịu trách nhiệm theo quy định tại BLDS 2015.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn hôn nhân gia đình về ly hôn và phân chia tài sản khi chồng đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài ?

3. Thu tiền đặt cọc để đi sang Hàn quốc của tu nghiệp sinh có hợp pháp ?

Kính gửi : Công ty luật Minh Khuê Hiên tôi đang làm việc trong một công ty Hàn Quốc, và công ty chúng tôi có 3 chi nhánh đặt tại Việt Nam. Hàng năm chúng tôi đón nhận rất nhiều tu nghiệp sinh Việt Nam sang Hàn tu nghiệp để học tập thêm kĩ thuật cũng như cho công nhân có cơ hội tìm hiểu khám phá phong tục văn hóa, và phong cách làm việc của con người Hàn Quốc.

Thời gian tu nghiệp bên Hàn Quốc khoảng 3 tháng, nhưng vấn đề phát sinh là trong thời gian tu nghiệp bên Hàn , công nhân liên tục bỏ trốn ra ngoài làm việc và không trở về Việt Nam đúng thời hạn. Trước kia công ty chúng tôi để hạn chế việc bỏ trốn của công nhân trong thời gian tu nghiệp tại Hàn Quốc cũng có một số biện pháp như : Trước khi đi tu nghiệp công nhân sẽ đặt cọc 10 triệu vnd và kèm theo sổ đỏ nhà đất. Trong thời gian tu nghiệp bên Hàn công nhân sẽ được bắn trả lương hàng tháng vào sổ tài khoản, tiền trợ cấp tu nghiệp sinh hàng tháng là 400 usd sẽ được trả sau khi công nhân hoàn thành khóa tu nghiệp trở về Việt Nam, khi đó sổ đỏ nhà đất sẽ được trả lại cho công nhân, và số tiền đặt cọc 10 triệu sẽ được gửi tiết kiệm và công ty sẽ giữ trong vòng 3 năm, sau đó sẽ trả lại công nhân.

Sau khi đi tu nghiệp về công nhân phải làm việc liên tục trong công ty trong vòng 3 năm sẽ được trả lại số tiền 10 triệu gửi tiết kiệm cả gốc và lãi suất. Nếu ko thực hiện làm việc đủ 3 năm, mà bỏ hay nghỉ việc thì số tiền gửi tiết kiệm trên sẽ không được trả lại. Trong trường hợp tu nghiệp sinh bỏ trốn thì sẽ không được nhận tiền trợ cấp tu nghiệp sinh hàng tháng là 400 usd và phía Việt Nam người đứng ra cho mượn và ủy quyền cho tu nghiệp sinh nhận sổ đỏ, muốn nhận lại sổ đỏ nhà đất sẽ phải bồi thường cho công ty tiền trợ cấp làm visa, tiền vé máy bay, bồi thường thiệt hại cho công ty 150 triệu đồng và nhận lại sổ đỏ, Nhưng công ty chưa xử lý được vụ nhận bồi thường nào từ phía tu nghiệp sinh. Tôi biết có nhiều vấn đề trong việc đặt cọc tiền và sổ đỏ của công nhân đi tu nghiệp, hiện nay công ty đang muốn thay đổi vấn đề đó, nhưng ko yên tâm vì nếu xóa bỏ vấn đề đặt cọc thì tỉ lệ tu nghiệp sinh bỏ trốn sẽ rất cao.

Vậy tôi muốn hỏi công ty có thể áp dụng luật như thế nào để có cơ sở xử lý tu nghiệp sinh khi vi phạm hợp đồng đào tạo với công ty, và công ty có thể áp dụng luật như thế nào để hạn chế tu nghiệp sinh bỏ trốn trong thời gian tu nghiệp tại Hàn Quốc ?

Cảm ơn!

Kính thư: ĐT Xuyến

Thu tiền đặt cọc để đi sang Hàn quốc của tu nghiệp sinh có hợp pháp ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7) gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:

"Điều 17. Hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động

1. Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

3. Buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động."

Theo như bạn trình bày thì công ty bạn đã giữ giấy tờ và thu tiền của người lao động, hành vi này của công ty bạn đã vi phạm quy định của Bộ luật Lao động.

Trong trường hợp công ty bạn đã ký hợp đồng với người lao động mà người lao động lại vi phạm hợp đồng lao động công ty bạn hoàn toàn có quyền tố cáo tới cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết. Người lao động sẽ phải thực hiện nghĩa vụ và nộp phạt theo quy định của Bộ luật Lao động và Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Điều 40 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:

"Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định:

"Điều 35. Vi phạm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài và một số đối tượng liên quan khác

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không đăng ký hợp đồng cá nhân tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

2. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn Hợp đồng lao động, hết hạn cư trú;

b) Bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng;

c) Sau khi nhập cảnh nước tiếp nhận lao động mà không đến nơi làm việc theo hợp đồng;

d) Lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc, lừa gạt người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái quy định.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc về nước đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này;"

b) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 02 năm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều này;

c) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 05 năm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm c và Điểm d Khoản 2 Điều này.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn về hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền?

4. Tiền đặt cọc chống trốn khi xuất khẩu lao động khi nào thì được lấy lại ?

E chào anh chị , em năm nay 22 tuổi , gần ba năm trước em có ra hà nội học để đi xuất khẩu lao động đài loan, và phía cty môi giới có đề nghị em đóng thêm 500 usd tiền chống trốn. Nay em đã làm ở cty được gân 3 năm đúng như hợp đồng và em và chủ lao động em tiếp tục đồng ý kí thêm tiếp 3 năm nữa , và sắp tới đây có việc nên em về nước vai hôm rồi qua lại , nhưng lúc em về chưa hết thời hạn 3 năm đầu tiên.
Vậy cho em hỏi trong thời gian về đó e có thể lấy lại khoản tiền đặt cọc chống trốn đó chưa ? Cảm ơn luật sư!
- Trân Phúc T

Luật sư trả lời:

Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định :

"1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Về bản chất, hợp đồng đặt cọc chống trốn mà bạn đề cập tới theo chúng tôi hiểu đó là bạn phải bỏ ra một số tiền để đảm bảo việc bạn sẽ ở lại Đài Loan làm việc trong 03 năm, không chấm dứt HĐLĐ trái luật, không bỏ ngang để ra đơn vị khác làm việc hoặc về Việt Nam làm việc. Với trường hợp của bạn, có thể khẳng định 2 điều:

Một là bạn hoàn toàn có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động để được về Việt Nam, pháp luật không cấm việc bạn về Việt Nam một thời gian nhất định sau đó sang lại để tiếp tục hợp đồng, như bạn nêu trên người SDLĐ này đã đồng ý tạm hoãn HĐLĐ để bạn về, vậy việc bạn về Việt Nam là đúng luật, số tiền này chỉ mất khi bạn không quay lại Đài Loan để thực hiện hợp đồng.

Hai là hợp đồng 03 năm chưa hết hạn, do vậy số tiền đặt cọc của bạn không mất nhưng bạn chưa lấy lại ngay được mà phải đợi hết thời hạn 03 năm của HĐLĐ bạn mới có quyền lấy lại. Điều kiện hoàn trả số tiền đặt cọc này cũng có thể được quy định chi tiết trong hợp đồng đặt cọc, vậy bạn có thể xem lại hợp đồng để có những hướng đi cụ thể cho mình.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./

>> Xem thêm:  Vợ ly hôn đơn phương khi chồng đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài?

5. Ký hợp đồng lao động phải đặt cọc bằng gốc là đúng hay sai ?

Thưa luật sư, em đang làm việc tại một công ty tư nhân, ký hợp đồng thời hạn 1 năm và phải đặt cọc bằng gốc. Nếu trong thời hạn một năm đó mà em phá hợp đồng thì phải bồi thường 20 triệu. Còn hết hợp đồng mà muốn nghỉ việc thì phải báo trước 3 tháng.
Hiện giờ em mới làm được gần 5 tháng nhưng vì có công việc riêng nên em báo nghỉ tại công ty trước 10 ngày, và có thể linh động 1 tháng để công ty thu xếp nhân lực. Nhưng phía công ty không thanh toán tháng lương trước cho em và yêu cầu em phải bồi thường 20 triệu ?
Xin luật sư tư vấn cho em ạ. Em cảm ơn.

Ký hợp đồng lao động phải đặt cọc bằng gốc là đúng hay sai ?

Tư vấn pháp luật lao động gọi : 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định như sau:

"Điều 17. Hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động

1. Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

3. Buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động."

Công ty yêu cầu chị nộp bằng gốc là trái quy định của pháp luật.

Về vấn đề công ty yêu cầu bạn khi chị chấm dứt hợp đồng phải báo trước 3 tháng là sai quy định của pháp luật, cụ thể là điều 35 Bộ luật lao động 2019:

"2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:
a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;
b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;
c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;
e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động."

Như vậy, bạn cần căn cứ vào từng loại hợp đồng để biết mình cần báo trước bao nhiêu ngày, báo trước 10 ngày đã đúng hay chưa.

Nếu bạn báo trước chưa đúng thì là bạn chấm dứt trái pháp luật. Theo đó, nghĩa vụ của bạn sẽ là:

"Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

Bạn xem xét xem trường hợp của mình thì bồi thường 20 triệu đã đúng hay chưa ? Nếu chưa đúng thì bạn hoàn toàn có quyền gửi đơn đến Phòng lao động thương binh xã hội hoặc Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi công ty đặt trụ sở chính để yêu cầu giải quyết.

Tham khảo bài viết liên quan:

1. Doanh nghiệp giữ bằng gốc của người lao động thì xử lý ra sao ?

2. Công ty có được giữ bằng gốc của người lao động không?

3. Tư vấn lấy lại bằng gốc đã nộp công ty cho người lao động ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục bảo lãnh vợ sang Úc thực hiện thế nào ? Thủ tục bảo lãnh sang Mỹ làm việc ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật?

Trả lời:

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Câu hỏi: Có mấy loại hợp đồng lao động theo bộ luật lao động năm 2019?

Trả lời:

Từ ngày 1-1-2021, hợp đồng lao động chỉ được giao kết theo một trong hai loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn.

Câu hỏi: Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm được tính như thế nào?

Trả lời:

NLĐ làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau:

+ Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;

+ Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;

+ Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với NLĐ hưởng lương ngày.

- NLĐ làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.

- NLĐ làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương hai nội dung trên, NLĐ còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết.