1. Một vài thông tin về Luật đấu thầu và Nghị định 63/2014/NĐ-CP
* Luật đấu thầu:
Ngày 26 tháng 11 năm 2013 Quốc hội đac ban hành Luật số 43/2013/QH13 về đấu thầu. Luật Đấu thầu năm 2013 bao gồm 13 chương và 96 điều luật và có phạm vi điều chỉnh cụ thể như sau:
- Dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước: Đối với các dự án này, quy trình lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp sẽ áp dụng cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và đơn vị sự nghiệp công lập.
- Dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước: Đối với các dự án này, quy trình lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước.
- Dự án đầu tư phát triển không thuộc quy định tại điểm a và điểm b: Đối với các dự án này, quy trình lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp áp dụng khi dự án sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng với giá trị đầu tư trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án.
- Mua sắm sử dụng vốn nhà nước để duy trì hoạt động thường xuyên: Quy định này áp dụng cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và đơn vị sự nghiệp công lập. Mục tiêu là đảm bảo hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, và đơn vị này thông qua việc mua sắm các sản phẩm và dịch vụ cần thiết.
- Mua sắm sử dụng vốn nhà nước để cung cấp sản phẩm, dịch vụ công: Quy định này nhằm đảm bảo cung cấp các sản phẩm và dịch vụ công cho cộng đồng. Việc mua sắm này áp dụng cho các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và đơn vị sự nghiệp công lập.
- Mua hàng dự trữ quốc gia sử dụng vốn nhà nước: Đây là quy định về việc mua sắm hàng hóa để lưu trữ dự trữ quốc gia, và việc này được thực hiện bằng sử dụng vốn nhà nước.
- Mua thuốc, vật tư y tế sử dụng vốn nhà nước: Quy định này liên quan đến việc mua sắm thuốc và vật tư y tế bằng sử dụng vốn nhà nước. Nguồn tài chính có thể bao gồm nguồn quỹ bảo hiểm y tế, thu từ dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và các nguồn thu hợp pháp khác của các cơ sở y tế công lập.
- Lựa chọn nhà thầu thực hiện cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa trên lãnh thổ Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam mà dự án đó sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án: Quy định này áp dụng cho doanh nghiệp Việt Nam thực hiện dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và dự án đó sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án. Doanh nghiệp cần lựa chọn nhà thầu để cung cấp các dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn và hàng hóa trong lãnh thổ Việt Nam.
- Lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), dự án đầu tư có sử dụng đất: Quy định này liên quan đến việc lựa chọn nhà đầu tư cho các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) và các dự án đầu tư có sử dụng đất. Quy định này áp dụng cho việc chọn nhà đầu tư trong các dự án đầu tư công trên lãnh thổ Việt Nam.
- Lựa chọn nhà thầu trong lĩnh vực dầu khí, trừ việc lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ dầu khí liên quan trực tiếp đến hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí: Quy định này áp dụng cho việc lựa chọn nhà thầu trong lĩnh vực dầu khí, trừ trường hợp lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ dầu khí liên quan trực tiếp đến hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí theo quy định của pháp luật về dầu khí. Điều này có nghĩa là các quy định khác về lựa chọn nhà thầu trong lĩnh vực dầu khí sẽ được áp dụng, trừ khi liên quan trực tiếp đến hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí.
* Nghị định 63/2014/NĐ-CP:
Tiếp đó, ngày 26 tháng 06 năm 2014 Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu. Nghị định bao gồm 15 chương và 130 điều với phạm vi điều chỉnh là một số quy định của Luật Đấu thầu 2014 và được chia thành nhiều trường hợp tại các điều luật khác nhau.
2. Giải đáp về luật đấu thầu và nghị định 63/2014/NĐ-CP
* Về gói thầu quy mô nhỏ:
Theo quy định tại khoản 24 Điều 4 Luật đấu thầu 2014 thì gói thầu quy mô nhỏ được định nghĩa là một gói thầu có giá trị không vượt quá mức hạn mức được Chính phủ quy định. Gói thầu này thường được áp dụng trong các dự án, gói thầu có quy mô nhỏ hơn, với mục tiêu tăng tính cạnh tranh, khuyến khích sự tham gia của các nhà thầu nhỏ và vừa. Việc thiết lập mức hạn mức giúp đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong việc lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu quy mô nhỏ, đồng thời đảm bảo sự tăng cường quản lý và kiểm soát chi phí trong quá trình thực hiện dự án. Quy định này cũng giúp đẩy mạnh sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đóng góp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 63 Nghị định 63 thì hạn mức của gói thầu quy mô nhỏ là một quy định quan trọng trong quá trình lựa chọn nhà thầu. Đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn và mua sắm hàng hóa, hạn mức được xác định là không vượt quá 10 tỷ đồng. Trong khi đó, đối với gói thầu xây lắp và hỗn hợp, hạn mức được giới hạn không quá 20 tỷ đồng.
Việc thiết lập hạn mức cho gói thầu quy mô nhỏ mang lại nhiều lợi ích đáng kể. Đầu tiên, nó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào quá trình cạnh tranh, đồng thời tăng tính minh bạch và công bằng trong quá trình lựa chọn nhà thầu. Hạn mức cũng giúp quản lý và kiểm soát chi phí hiệu quả, đảm bảo tính đáng tin cậy và hiệu suất của dự án.
Ngoài ra, quy định hạn mức còn đóng góp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia gói thầu quy mô nhỏ giúp tăng cường sự đa dạng và sự cạnh tranh trong ngành, tạo ra sự phân phối công bằng của nguồn lực và khả năng phát triển cho các doanh nghiệp nhỏ hơn.
Tóm lại, việc thiết lập hạn mức cho gói thầu quy mô nhỏ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cơ hội và khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quá trình lựa chọn nhà thầu
* Về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu:
Theo quy định tại Điều 6 Luật đấu thầu 2014 và Điều 2 Nghị định 63 thì việc đảm bảo cạnh tranh trong đấu thầu bao gồm:
- Nhà thầu tham dự quan tâm và sơ tuyển phải tuân thủ các quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 của Điều 6 trong Luật Đấu thầu. Điều này đảm bảo rằng những nhà thầu tham gia quá trình đấu thầu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu và điều kiện được quy định trong luật để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình lựa chọn nhà thầu.
- Đối với nhà thầu tham dự trong gói thầu hỗn hợp, điều kiện quan trọng là phải đảm bảo độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính so với nhà thầu lập báo cáo nghiên cứu khả thi, hồ sơ thiết kế kỹ thuật và hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công cho gói thầu đó. Tuy nhiên, có một ngoại lệ, khi những nội dung công việc này là một phần của gói thầu hỗn hợp, thì sự độc lập này không cần thiết.
- Đối với nhà thầu tư vấn, họ có thể tham gia cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ tư vấn cho cùng một dự án. Các dịch vụ tư vấn bao gồm lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, lập báo cáo nghiên cứu khả thi, lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật, lập hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công và tư vấn giám sát. Điều này cho phép nhà thầu tư vấn tham gia đóng góp vào nhiều khía cạnh của dự án và đảm bảo sự chuyên nghiệp và hiệu quả trong việc cung cấp dịch vụ tư vấn cho dự án đó
- Các điều kiện để nhà thầu được đánh giá là độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính đối với các bên liên quan trong quá trình đấu thầu, theo quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 của Điều 6 trong Luật Đấu thầu.
+ Nhà thầu không thuộc cùng một cơ quan hoặc tổ chức trực tiếp quản lý đối với đơn vị sự nghiệp. Điều này đảm bảo rằng nhà thầu và đơn vị sự nghiệp không có mối quan hệ trực tiếp về quản lý, giúp đảm bảo tính độc lập trong quá trình đấu thầu.
+ Nhà thầu và chủ đầu tư hoặc bên mời thầu không có cổ phần hoặc vốn góp trên 30% của nhau. Điều này đảm bảo rằng không có mối quan hệ tài chính chặt chẽ giữa nhà thầu và chủ đầu tư hoặc bên mời thầu, đồng thời tạo ra sự độc lập tài chính trong quá trình đấu thầu.
+ Nhà thầu và chủ đầu tư hoặc bên mời thầu không có cổ phần hoặc vốn góp trên 20% của nhau khi cùng tham dự thầu trong một gói thầu đối với đấu thầu hạn chế. Điều này đảm bảo tính độc lập giữa nhà thầu và chủ đầu tư hoặc bên mời thầu trong quá trình đấu thầu hạn chế.
+ Nhà thầu tham dự thầu với nhà thầu tư vấn cho gói thầu đó không có cổ phần hoặc vốn góp của nhau, và không cùng có cổ phần hoặc vốn góp trên 20% của một tổ chức hoặc cá nhân khác. Điều này đảm bảo tính độc lập về tài chính giữa nhà thầu và nhà thầu tư vấn, đồng thời loại trừ sự ảnh hưởng của các tổ chức hoặc cá nhân khác có liên quan đến cổ phần hoặc vốn góp trong quá trình đấu thầu
- Trường hợp liên quan đến tập đoàn kinh tế nhà nước và việc tham gia quá trình lựa chọn nhà thầu trong trường hợp các sản phẩm, dịch vụ thuộc gói thầu là ngành nghề sản xuất kinh doanh chính của tập đoàn và là đầu ra của một công ty trong tập đoàn, đồng thời là đầu vào của một công ty khác trong tập đoàn.
+ Nếu sản phẩm, dịch vụ thuộc gói thầu là ngành nghề sản xuất kinh doanh chính của tập đoàn và là đầu ra của một công ty trong tập đoàn, đồng thời là đầu vào của công ty khác trong tập đoàn, thì tập đoàn và các công ty con của tập đoàn được phép tham dự quá trình lựa chọn nhà thầu của nhau. Điều này cho phép tập đoàn và các công ty con của nó tham gia quy trình đấu thầu trong một phạm vi nội bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tương tác và tối ưu hóa nguồn lực trong tập đoàn.
+ Tuy nhiên, nếu sản phẩm, dịch vụ thuộc gói thầu là đầu ra của một công ty trong tập đoàn, đồng thời là đầu vào duy nhất trên thị trường, thì quá trình lựa chọn nhà thầu sẽ tuân theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Điều này có nghĩa là tập đoàn sẽ tuân thủ quy định được ban hành bởi Thủ tướng Chính phủ liên quan đến việc lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt này.
3. Đối tượng áp dụng Luật đấu thầu
Đối tượng áp dụng của Luật Đấu thầu. Cụ thể:
- Đối tượng áp dụng gồm các tổ chức và cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động đấu thầu quy định tại Điều 1 của Luật này. Điều này áp dụng cho tất cả các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình đấu thầu, bao gồm cả chủ đầu tư, bên mời thầu, nhà thầu, và các bên liên quan khác. Luật này có tác động đến các khía cạnh của hoạt động đấu thầu, đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình này.
- Luật này cũng áp dụng cho các tổ chức và cá nhân có hoạt động đấu thầu không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này. Tuy nhiên, trong trường hợp này, các tổ chức và cá nhân đó chọn áp dụng quy định của Luật này. Điều này đảm bảo rằng dù không bị yêu cầu bởi Luật, nhưng các tổ chức và cá nhân này vẫn tuân thủ các quy định liên quan của Luật Đấu thầu. Việc áp dụng này nhằm đảm bảo công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế trong hoạt động đấu thầu của họ.
Trên đây là toàn bộ nội dung thông tin mà Luật Minh Khuê cung cấp tới quý khách hàng. Ngoài ra quý khách hàng có thể tham khảo thêm bài viết về chủ đề bảo đảm dự thầu đối với nhà thầu liên danh được quy định như thế nào trong luật đấu thầu của Luật Minh Khuê. Còn điều gì vướng mắc, quy khách vui lòng liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Trân trọng./.