Thưa luật sư, xin luật sư cho hỏi: Giải thích điều ước quốc tế là gì theo quy định của Công ước viên năm 1969, nội dung của giải thích điều ước quốc tế là gì? Thẩm quyền giải thích điều ước quốc tế được quy định ra sao? Rất mong nhận được giải đáp từ luật sư. Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Ngọc Hà - Quảng Ngãi

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Công ước viên năm 1969

2. Khái quát quy định về giải thích điều ước quốc tế theo Công ước viên 1969

Giải thích điều ước quốc tế là một phần quan trọng trong công việc hàng ngày của các luật sư, cố vấn pháp lý của bộ ngoại giao các nước. Công ước Viên 1969 có ba quy định về giải thích điều ước quốc tế: Điều 31, 32 và 33. Điều 31 về quy định chung, Điều 32 về các biện pháp bổ trợ, và Điều 33 về giải thích điều ước được ký kết bằng nhiều ngôn ngữ. Điều 31 và 32 được công nhận rộng rãi là quy định tập quán quốc tế bởi các cơ quan tài phán trong rất nhiều vụ việc. Điều 33 chưa có án lệ nào công nhận là quy định tập quán nhưng được sử dụng khá rộng rãi bởi các cơ quan tài phán quốc tế. Một điểm cần lưu ý rằng, bên cạnh các quy định ở Điều 31 – 33, các cơ quan tài phán quốc tế còn áp dụng các biện pháp, cách tiếp cận khác để giải thích điều ước quốc tế. Các cách tiếp cận khác sẽ được giới thiệu trong các bài viết tiếp theo.

>> Xem thêm:  Quốc thư là gì ? khái niệm quốc thư được hiểu như thế nào ?

3. Quy định chung theo Điều 31

Điều 31(1) quy định điều ước quốc tế phải được giải thích một cách thiện chí theo nghĩa thông thường của câu chữ trong điều ước đặt trong bối cảnh, và phù hợp với mục đích và đối tượng của điều ước. Nghĩa thông thường của câu chữ trong điều ước là điểm bắt đầu của việc giải thích điều ước quốc tế, bởi lẽ câu chữ chính là bằng chứng rõ ràng nhất về ý định của các bên. Thực tế đàm phán cũng cho thấy rằng các bên ký kết không chỉ tập trung vào nội dung cam kết mà còn rất cẩn trọng trong việc lựa chọn và sử dụng câu chữ nhằm phản ánh đúng nhất cam kết chung của các bên.

- Nghĩa thông thường của câu chữ có thể được hiểu là nghĩa phổ biến nhất theo cách sử dụng thông dụng; cách dễ dàng nhất là tìm nghĩa thông thường trong các từ điển ngôn ngữ có uy tín. Ví dụ, trong phán quyết về nội dung của Vụ kiện Biển Đông, Toà trọng tài đã sử dụng từ điển Oxford English Dictionary và Shorter Oxford English Dictionary để tìm nghĩa thông thường của các từ ngữ sử dụng trong Điều 121(3) Công ước Luật Biển năm 1982.

- Nghĩa thông thường của câu chữ không thể được hiểu một cách riêng rẻ mà cần được xem xét đặt trong bối cảnh của câu chữ đó. Khoản 2 Điều 31 giải thích bối cảnh bao gồm toàn bộ văn bản (cả lời nói đầu và các phụ lục), các thoả thuận, văn kiện liên quan đến điều ước. Những thoả thuận hay văn kiện nêu trên cần phải được sự đồng ý của tất cả các bên ký kết, do đó, phải được xem xét đến khi giải thích điều ước quốc tế mặc dù chúng không là một phần của điều ước.

- Giải thích điều ước cần được thực hiện phù hợp với mục đích và đối tượng của điều ước. Nghĩa được giải thích ra phải không được đi ngược lại mà phải phục vụ cho việc đạt được mục đích và đối tượng của điều ước. Yếu tố này đôi khi được đồng nhất với nguyên tắc giải thích hữu hiệu (principle of effectiveness), theo đó, nếu quy định của điều ước dẫn đến hai ý nghĩa thì ý nghĩa nào cho phép điều ước có hiệu quả tốt hơn sẽ được lựa chọn.

- Ngoài nghĩa thông thường và bối cảnh, Điều 31 còn quy định ở Khoản 3 rằng giải thích điều ước cần xem xét đến (a) bất kỳ thoả thuận sau này giữa các bên liên quan đến giải thích điều ước, (b) bất kỳ thực tiễn sau này khi áp dụng điều ước được xem là thoả thuận của các bên về giải thích điều ước. Khoản 3 dự trù trước khả năng sau khi ký kết, các bên có thể có thoả thuận về giải thích điều ước bằng một thoả thuận rõ ràng hoặc ngầm định trong thực tiễn thực thi điều ước. Thoả thuận sau này được xem là cách giải thích xác thực chính thức của các bên. Thực tiễn sau này thực thi điều ước được xem là “bằng chứng khách quan về cách hiểu của các bên về ý nghĩa của điều ước”, bởi vì nếu điều ước được thực thi một cách thuận lợi, không có tranh chấp thì chứng tỏ rằng ở một mức độ nhất định, các bên đã có cùng cách hiểu và chấp nhận cách hiểu đó.

- Khoản 3 Điều 31 ở điểm (c) quy định thêm rằng bất kỳ quy định phù hợp nào của luật quốc tế áp dụng trong quan hệ giữa các bên cũng cần được xem xét đến. Đây là một quy định khá mơ hồ với nội hàm không phải rõ ràng khi được ILC dự thảo, và thực tế, nội hàm của quy định này chỉ phát triển dần theo thực tiễn. Hai câu hỏi quan trọng là"

(1) luật áp dụng ở đây là luật tại thời điểm ký kết hay luật tại thời điểm áp dụng và

(2) các quy định khác đóng vai trò đến mức độ nào khi giải thích điều ước.

Câu hỏi thức nhất liên quan đến một vấn đề rộng hơn liên quan đến vấn đề giải thích phát triển có vai trò đến đâu khi cả luật pháp quốc tế và ngôn ngữ sử dụng đều thay đổi theo thời gian. Câu hỏi thứ hai chỉ đến việc giải thích để phù hợp với tổng thể quan hệ pháp lý giữa các bên, bởi lẽ điều ước và quy định của điều ước đều là một bộ phận của luật quốc tế và giải thích không nên tách rời điều ước khỏi môi trường pháp lý của nó. Một số vai trò rõ ràng hơn của quy định ở điểm (c) này là bổ sung các quy định còn thiếu sót của điều ước bằng các quy định chung của luật quốc tế, đưa ra hướng dẫn giải thích từ các quy định tương tự trong các điều ước khác, và giải quyết xung đột giữa các điều ước.

>> Xem thêm:  Nghị định thư SDR năm 1979 là gì? Tìm hiểu về nghị định thư SDR năm 1979?

- Khoản 4 Điều 31 quy định nếu các bên ký kết đồng ý về việc sử dụng một nghĩa đặc biệt thì nghĩa đặc biệt đó sẽ được sử dụng, không sử dụng nghĩa thông thường. Nghĩa đặc biệt này thường được ghi nhận trong các quy định đầu tiên của các điều ước quốc tế về định nghĩa các thuật ngữ được sử dụng.

Điều 31 yêu cầu giải thích điều ước quốc tế có thể cần chú ý đến hàng loạt các yếu tố nêu trên. Việc lựa chọn và áp dụng một hay một nhóm các yếu tố sẽ có thể cho ra các kết quả giải thích không giống nhau. Một kết quả giải thích là kết quả của việc áp dụng nhiều yếu tố sẽ có sức nặng hơn chỉ dựa vào một yếu tố. Với một bộ công cụ như thế, Điều 31 cho thấy giải thích điều ước quốc tế là một khoa học với các quy định, nhưng cũng là một nghệ thuật do kết quả giải thích dựa vào sự chủ quan trong đánh giá tác động của từng và các yếu tố giải thích.

4. Các biện pháp bổ trợ theo Điều 32

Điều 32 quy định hai biện pháp bổ trợ khi giải thích điều ước quốc tế, bao gồm nhưng không giới hạn trong văn bản đàm phán (preparatory works/travaux preparatoire) và hoàn cảnh ký kết điều ước. Tính chất bổ trợ là do hai biện pháp này chỉ được áp dụng sau khi áp dụng Điều 31 nhằm mục đích xác nhận lại kết quả giải thích, hoặc trực tiếp giải thích điều ước khi kết quả giải thích theo Điều 31 rõ ràng là mơ hồ, phi lý. Các biện pháp bổ trợ ở Điều 32 là danh sách mở, có thể có các biện pháp bổ trợ khác.

Xem xét văn bản đàm phán sẽ có thể giúp truy nguyên, theo dõi diễn biến đàm phán giữa các bên, từ ý tưởng ban đầu, mặc cả, nhượng bộ, trao đổi lợi ích để đi đến cam kết cuối cùng. Trong một số trường hợp, văn bản đàm phán hỗ trợ hiệu quả trong việc xác định rõ ý định của các bên, nhất là khi lưu trữ đầy đủ biên bản đàm phán. Bất lợi lớn nhất cho việc nghiên cứu văn bản đàm phán là không phải lúc nào cũng có đầy đủ biên bản ghi nhận trọn vẹn diễn biến đàm phán, đặc biệt là các cuộc đàm phán kéo dài nhiều năm, nhiều thập kỷ. Dù có đủ văn bản lưu trữ thì đôi khi văn bản lưu trữ quá lớn để khảo sát toàn diện, ví dụ như văn bản đàm phán trong Hội nghị Liên hợp quốc về Luật Biển lần thứ ba (1973 – 1982).

Hoàn cảnh ký kết điều ước là yếu tố rất mơ hồ và có thể xem là biện pháp bất đắc dĩ cuối cùng khi giải thích điều ước quốc tế. Lo-gic ở đây là dựa vào tất cả các hoàn cảnh xung quanh việc ký kết điều ước quốc tế đặt trong quan hệ giữa các bên để xác định ý định của các bên. Biện pháp này cần phải sử dụng một cách cẩn trọng. Độ khả tín của yếu tố này rất thấp.

5. Giải thích điều ước được ký kết bằng nhiều ngôn ngữ

Thực tế khá phổ biến trường hợp một điều ước quốc tế được ký kết bằng nhiều ngôn ngữ, ví dụ như các điều ước quốc tế do Liên hợp quốc bảo trợ sẽ có sáu bản bằng sáu ngôn ngữ chính thức của tổ chức này, hay điều ước quốc tế song phương sẽ thường có hai bản theo hai ngôn ngữ của hai bên ký kết. Điều 33 quy định về giải thích điều ước quốc tế có nhiều bản ngôn ngữ khác nhau, đặc biệt là khi giữa các phiên bản có độ lệch về ý nghĩa.

Ở đây cần đặc biệt lưu ý rằng Điều 33 chỉ áp dụng đối với các bản được xác thực, bản gốc của điều ước quốc tế, chứ không điều chỉnh với những bản không có giá trị xác thực như “bản dịch chính thức”, “bản dịch” của điều ước do một quốc gia hay một tổ chức đưa ra. Bản xác thực của điều ước là văn bản được các bên ký kết xác thực theo quy định ở Điều 10 Công ước Viên, hoặc theo quy định của chính điều ước quốc tế đó.

Thực tế cho thấy hầu hết các điều ước với nhiều bản xác thực bằng các ngôn ngữ khác nhau sẽ quy định chúng có giá trị bằng nhau. Các quốc gia cũng có thể thoả thuận để lựa chọn một bản có giá trị ưu thế hơn so với các bản xác thực khác. Khi đó, bản ưu thế sẽ là văn bản duy nhất được sử dụng để giải thích và áp dụng điều ước quốc tế. Trong trường hợp có xung đột ý nghĩa giữa các bản thì bản ưu thế sẽ được sử dụng. Ví dụ như Điều 23(5) Hiệp định tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư năm 2003 giữa Việt Nam và Nhật Bản quy định Hiệp định này được lập thành ba bản tiếng Việt, tiếng Nhật và tiếng Anh, tất cả các bản đều có giá trị bằng nhau, nhưng trong trường có tranh chấp thì bản tiếng Anh sẽ có giá trị quyết định.

>> Xem thêm:  Quan sát viên là gì ? Khái niệm quan sát viên được hiểu như thế nào ?

Khoản 3 Điều 33 quy định câu chữ của điều ước được xem là có cùng ý nghĩa trong mỗi và tất cả bản xác thực. Lo-gic ở đây là: dù có nhiều bản ngôn ngữ khác nhau nhưng về bản chất chỉ có một điều ước quốc tế được ký kết, và do đó, cũng chỉ có một nghĩa duy nhất trong tất cả bản ngôn ngữ khác nhau đó. Trong trường hợp các bên không có thoả thuận và điều ước không có quy định, thì Khoản 4 Điều 33 quy định rằng ý nghĩa của điều ước sẽ là ý nghĩa có thể hoà giải tốt nhất sự khác nhau giữa các phiên bản ngôn ngữ, có xét đến mục đích và đối tượng của điều ước. Như vậy, nếu không có phiên bản ưu thế thì tất cả các phiên bản xác thực đều có giá trị bằng nhau, và nghĩa chung, duy nhất của chúng là ý nghĩa trung hoà được tất cả các phiên bản.

Quy định ở Điều 33 là rất cần thiết khi thực tiễn cho thấy khó có điều ước quốc tế nào mà không có nhiều phiên bản xác thực, trừ trường hợp ngôn ngữ chính thức của các bên là giống nhau (như Mỹ và Anh chẳng hạn). Ngoài ý nghĩa về xác lập quy định giải quyết vấn đề điều ước quốc tế có nhiều phiên bản ngôn ngữ xác thực, Điều 33 còn có một số gợi ý hữu ích cho người nghiên cứu và thực hành luật quốc tế. Thứ nhất, Điều 33 gợi ý rằng thông qua biện pháp so sánh các bản xác thực trong nhiều ngôn ngữ có thể làm sáng tỏ hơn ý nghĩa của điều ước. Ví dụ như Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc quy định quyền tự vệ là “the inherent right of individual or collective defense” trong bản tiếng Anh, và sẽ dễ hiểu hơn nữa đọc thêm bản tiếng Pháp từ được sử dụng là “au droit naturel de légitime défense, individuelle ou collective”; bản tiếng pháp dùng từ “naturel” và thêm một từ “légitime” với nghĩa quyền tự vệ hợp pháp là một quyền tự nhiên. So sánh như thế có thể thấy rõ hơn nội hàm của một quy định cụ thể. Thứ hai, khi đọc và giải thích các điều ước quốc tế phải xem xét trên cơ sở bản xác thực của điều ước đó, không sử dụng bản dịch để bảo đảm các phân tích, cách hiểu đúng nhất và sát nhất. Khi làm việc với các điều ước quốc tế đa phương, như Công ước Luật Biển năm 1982, nếu người Việt sử dụng bản dịch tiếng Việt, kể cả khi bản dịch đó là bản dịch tiếng Việt chính thức của Bộ Ngoại giao, thì về nguyên tắc là không đúng phương pháp do văn bản dịch đó không có giá trị pháp lý theo luật pháp quốc tế.

6. Thẩm quyền giải thích điều ước quốc tế

Một điều ước quốc tế có thể được nhiều bên giải thích trong nhiều trường hợp khác nhau, ví dụ các quốc gia ký kết, các cơ quan tài phán, tổ chức quốc tế liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ, các công ty, tổ chức và cá nhân (học giả). Tuy nhiên chỉ có một số ít trong các bên đó thực sự có quyền giải thích có giá trị (authoritative interpretation) một điều ước quốc tế – tạm gọi là giải thích chính thức. Giải thích của những bên còn lại mang tính chất tham khảo, không có bất kỳ giá trị pháp lý – tạm gọi là giải thích không chính thức. Lưu ý rằng cần phân biệt giữa giá trị pháp lý và tính chính xác của nội dung giải thích, ví dụ như giải thích của học giả không có giá trị pháp lý nhưng không có nghĩa là giải thích sai.

6.1. Thẩm quyền giải thích điều ước quốc tế của các bên ký kết

Giải thích điều ước quốc tế trước hết và đương nhiên thuộc về quyền của các bên ký kết. Các bên ký kết là chủ thể xác lập nên các điều ước quốc tế theo ý chí chung của họ nhằm tạo ra quyền và nghĩa vụ cho chính mình. Do đó, đương nhiên họ có quyền giải thích các quy định do chính mình xác lập – nói cách khác, nguyên tắc ở đây là chủ thể có quyền năng xác lập các quy định pháp lý thì cũng có quyền năng giải thích các quy định đó. Quyền năng ký kết điều ước quốc tế đồng thời cũng tương ứng với quyền năng giải thích điều ước quốc tế.

Cũng lưu ý rằng quyền giải thích điều ước của các bên ký kết là quyền tập thể, theo nghĩa, nội dung giải thích chỉ có giá trị pháp lý nếu được tất cả các bên đồng ý. Tuyên bố giải thích đơn phương không có giá trị pháp lý đối với các bên ký kết khác, trừ khi được tất cả các bên ký kết khác chấp nhận.

Trong một nghiên cứu năm 2001, Ủy ban Luật pháp Quốc tế Liên hợp quốc (ILC) đã có một số nhận định quan trọng về tuyên bố giải thích đơn phương của các quốc gia riêng lẻ. Tuyên bố giải thích được hiểu là:

“một tuyên bố đơn phương, bất kể tên gọi, được một Quốc gia hay một tổ chức quốc tế đưa ra, và thông qua tuyên bố đó Quốc gia hay tổ chức này muốn cụ thể hóa hay làm rõ ý nghĩa và phạm vi của một điều ước hoặc một số quy định của điều ước.”

Lưu ý rằng tuyên bố giải thích và tuyên bố bảo lưu là khác nhau, dù đôi khi rất dễ nhầm lẫn. Tiêu chí phân biệt quan trọng nhất giữa hai loại tuyên bố đơn phương này là mục đích đưa ra tuyên bố: Tuyên bố bảo lưu nhằm sửa đổi hay loại trừ việc áp dụng một một số điều khoản của một điều ước; trong khi, tuyên bố giải thích nhằm làm cụ thể hóa, sáng tỏ ý nghĩa, nội hàm của một điều ước. Tuyên bố giải thích không làm thay đổi nội hàm của điều ước mà các bên đã ký kết.

6.2. Giải thích của các cơ quan tài phán và tổ chức quốc tế có thẩm quyền

Bên cạnh các bên ký kết, các cơ quan tài phán hay các cơ quan, tổ chức hay thực thể khác cũng có thể có quyền giải thích điều ước quốc tế nếu được các bên chấp nhận thẩm quyền hay trao quyền. Quyền giải thích điều ước của các cơ quan tài phán và tổ chức quốc tế theo đó là quyền phái sinh do các quốc gia trao cho. Ví dụ, Toà án Công lý Quốc tế (ICJ) có quyền giải thích điều ước quốc tế trong vụ việc tranh chấp được các bên đệ trình và chấp nhận thẩm quyền của Toà, hay như các cơ quan của Liên hợp quốc có quyền giải thích quy định của Hiến chương bao gồm giải thích thông qua việc xin ý kiến tư vấn của Toà ICJ. Một ví dụ khác là Điều 51(1) Hiến chương ASEAN trao quyền giải thích cho Ban thư ký phù hợp với thủ tục do Hội đồng Điều phối ASEAN quy định.

>> Xem thêm:  Phê chuẩn là gì ? Khái niệm phê chuẩn được hiểu như thế nào ?

Lưu ý rằng các giải thích này có thể có giá trị chung cho tất cả các bên, hoặc, chỉ trong một số bên tranh chấp trong vụ việc liên quan. Ví dụ như giải thích của Toà ICJ trong phán quyết của mình chỉ ràng buộc các bên trong vụ việc cụ thể đó. Đương nhiên, Tòa có thể trích lại giải thích của mình trong một vụ việc để áp dụng vào một vụ việc khác liên quan đến cùng một điều khoản. Điều này không có nghĩa là nội dung giải thích trong một vụ việc có giá trị pháp lý với tất cả các quốc gia thành viên của cùng một điều ước. Việc trích dẫn và áp dụng lại nội dung giải thích trong các vụ việc trước đây dựa trên việc giải thích đó, theo Tòa, là giải thích chính xác quy định liên quan. Như đã nói ở ngay đầu bài viết, ở đây cần phân biệt rõ giữa giá trị pháp lý và tính chính xác của nội dung giải thích.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Giải thích điều ước là gì? Thẩm quyền giải thích điều ước quốc tế là gì?". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Tìm hiểu về tổ chức quốc tế liên chính phủ và vai trong xây dựng pháp luật quốc tế

Câu hỏi thường gặp về giải thích điều ước quốc tế

Câu hỏi: Thẩm quyền giải thích điều ước quốc tế là gì?

Trả lời:

- Giải thích của các bên ký kết điều ước

- Giải thích của các cơ quan tài phán và tổ chức quốc tế có thẩm quyền

Câu hỏi: Nguyên tắc giải thích điều ước quốc tế là gì?

Trả lời:

Điều ước quốc tế phải được giải thích một cách thiện chí theo nghĩa thông thường của câu chữ trong điều ước đặt trong bối cảnh, và phù hợp với mục đích và đối tượng của điều ước. Nghĩa thông thường của câu chữ trong điều ước là điểm bắt đầu của việc giải thích điều ước quốc tế, bởi lẽ câu chữ chính là bằng chứng rõ ràng nhất về ý định của các bên

Câu hỏi: Giá trị pháp lý của các bản điều ước ngôn ngữ khác nhau như thế nào?

Trả lời:

Thực tế cho thấy hầu hết các điều ước với nhiều bản xác thực bằng các ngôn ngữ khác nhau sẽ quy định chúng có giá trị bằng nhau. Các quốc gia cũng có thể thoả thuận để lựa chọn một bản có giá trị ưu thế hơn so với các bản xác thực khác. Khi đó, bản ưu thế sẽ là văn bản duy nhất được sử dụng để giải thích và áp dụng điều ước quốc tế. Trong trường hợp có xung đột ý nghĩa giữa các bản thì bản ưu thế sẽ được sử dụng. Ví dụ như Điều 23(5) Hiệp định tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư năm 2003 giữa Việt Nam và Nhật Bản quy định Hiệp định này được lập thành ba bản tiếng Việt, tiếng Nhật và tiếng Anh, tất cả các bản đều có giá trị bằng nhau, nhưng trong trường có tranh chấp thì bản tiếng Anh sẽ có giá trị quyết định.