Thực hiện chế độ hai cấp xét xử là một nguyên tắc xét xử quan trọng của Tòa án thể hiện ở việc đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật và phải được thí hành.

1. Khái niệm về hoạt động xét xử của tòa án

Để bảo đảm tòa án thực hiện được nhiệm vụ thi hành công lí mà hiến pháp đã giao, trong quá trình hoạt động tòa án phải tuân thủ nhiều nguyên tắc, quy định chặt chẽ về mặt thủ tục. Có những nguyên tắc mang tính bao trùm toàn bộ hoạt động của tòa án, có những nguyên tắc chi phối việc thực hiện một loạỉ công việc cụ thể của tòa án.

Các nguyên tắc hiến định về hoạt động của tòa án nhân dân được hiểu là các quan điểm, tư tưởng chủ đạo, đồng thời cũng là các quy tắc pháp lý quan trọng nhất và bao trùm toàn bộ hoạt động của hệ thống tòa án nhân dân, được quy định trong hiến pháp.

Hiện có 7 nguyên tắc hiến định về hoạt động của tòa án nhân dân, được quy định tại Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

Các nguyên tắc hiến định về hoạt động của tòa án nhân dân có những đặc điểm sau.

Thứ nhất, các nguyên tắc này không chỉ là các quan điểm, tư tưởng chủ đạo mà còn là những quy tắc pháp lý với những nội dung cụ thể mang tỉnh quy phạm ràng buộc tòa án khi tiến hành các hoạt động của mình (nội dung của các nguyên tắc đuợc trình bày ở phần sau).

Thứ hai, đây là những quy tắc pháp lý quan trọng nhất, bao trùm toàn bộ hoạt động của hệ thống tòa án nhân dân. Từng tòa án nhân dân phải tuân thủ các quy tắc này trong quá trình hoạt động của từng tòa án, từng hội đồng xét xử, từng thẩm phán, hội thẩm khi thụ lí vụ án. Nhu trên đã đề cập, tòa án có thẩm quyền xét xử các loại vụ việc khác nhau như hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, hành chính. Tương ứng, khi xét xử tòa án tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, dân sự và hành chính. Mỗi loại tố tụng lại có những nguyên tắc riêng mà tòa án phải tuân thủ. Tuy nhiên, các nguyên tắc hiến định đề cập ở đây là những nguyên tắc nền tảng nhất, áp dụng chung cho mọi hoạt động của tòa án. Vì vậy, khi tòa án xét xử theo tố tụng hình sự, dân sự hay hành chính đều phải tuân thủ các nguyên tắc này. Các nguyên tắc và các quy định cụ thể trong các hình thức tố tụng trên, bao gồm cả các nguyên tắc đặc thù trong từng loại hình tố tụng đều phải phù hợp và có khi là sự cụ thể hóa của các nguyên tắc hiến định hoạt động của tòa án.

Thứ ba, chính vì là những quy tắc pháp lý quan trọng và bao trùm nhất nên các nguyên tắc này được quy định trong hiến pháp, đạo luật cơ bản và có giá trị pháp lý tối cao trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Đặc điểm này là về hình thức, song rất có ý nghĩa bởi nó khẳng định tầm quan trọng của các nguyên tắc đối với hoạt động của tòa án nói riêng cũng như bộ máy nhà nước nói chung. Một khi đã được quy định trong hiến pháp thì các nguyên tắc cũng mang giá trị pháp lý tối cao như chính bản thân hiến pháp.

2. Phân tích nguyên tắc độc lập tư pháp - Độc lập xét xử

“Độc lập tư pháp” là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động của hệ thống tòa án trong nhà nước pháp quyền hịện đại. Rất nhiều quốc gia đã quy định nguyên tắc này trong hiến pháp của mình. Thậm chí đã có câu ví von rằng nguyên tắc này là “viên ngọc trên vương miện nhà nước pháp quyền”.

Nguyên tắc “độc lập tư pháp” ở Việt Nam được quy định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, với nội dung:

“Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cẩm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm".

Như vậy, nguyên tắc “độc lập tư pháp” ở Việt Nam được hiểu là sự độc lập của thẩm phán và hội thẩm trong quá trình thực hiện chức năng xét xử của tòa án. Thẩm phán và hội thẩm độc lập có nghĩa là thẩm phán và hội thẩm giải quyết các tranh chấp chỉ dựa trên quy định của pháp luật và niềm tin của mình vào pháp luật mà không phụ thuộc vào ý chí hoặc sự chi phối của bất kì chủ thể nào khác. Trong thực tiễn, hoạt động xét xử của tòa án thường được thực hiện bởi các hội đồng xét xử với thành phần bao gồm thẩm phán và hội thẩm nhân dân (đối với cấp sơ thẩm) hoặc các thẩm phán (đối với các cấp xét xử khác). Vì vậy, nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật cũng có thể gọi là nguyên tắc “tòa án độc lập”.

Nguyên tắc độc lập tư pháp được nhìn nhận trên hai phương diện. Thứ nhất, thẩm phán và hội thẩm độc lập với nhau khi thực hiện chức năng xét xử. Thẩm phán không được gây ảnh hưởng hoặc tác động để hội thẩm xử theo ý mình và ngược lại. Cả hai loại chủ thể đều xét xử chỉ căn cứ vào pháp luật và niềm tin của mình về pháp luật. Đây là phương diện độc lập bên trong của tòa án. Thứ hai, thẩm phán và hội thẩm độc lập với các yếu tố tác động từ bên ngoài, bao gồm sự tác động từ các thẩm phán, hội thẩm đồng nghiệp cấp trên hay bất kì cơ quan, tổ chức nào khác. Đây là phương diện độc lập bên ngoài của thẩm phán và hội thẩm.

Trước đây, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định về nguyên tắc độc lập tư pháp như sau: “Khi xét xử,

Thẩm phản và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” (Điều 130). Với nội dung này, nguyên tắc độc lập tư pháp đã được hiểu theo nghĩa hẹp, có nghĩa là chỉ khi thực hiện xét xử tại phiên tòa thi thẩm phán và hội thẩm mới độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Quy định của Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng hon phạm vi của nguyên tắc, với nghĩa là thẩm phản, hội thẩm độc lập trong suốt quá trình thực hiện chức năng xét xử, không chỉ khi xét xử mà cả khi tiến hành các hoạt động tố tụng khác. Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 cũng nhấn mạnh “nghiêm cẩm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phản, Hội thẩm ” (khoản 2 Điều 103). Mặc dù quy định này chưa được cụ thể hóa đầy đủ trong các luật có liên quan song có thể thấy về tổng thể nội dung của nguyên tắc độc lập tư pháp đã được mở rộng và nhấn mạnh trong Hiến pháp năm 2013 hon nhiều so với Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

Nguyên tắc độc lập tư pháp là yểu tố bảo đảm quan trọng để tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lí. Để chứng tỏ sự thi hành công lí, tòa án phải thể hiện sự khách quan, công bằng của mình khi xét xử. Các bên trong tranh chấp trước tòa án phải thấy rằng tòa án không thiên vị ai, chỉ xét xử theo lẽ phải, lẽ công bằng và quy định của pháp luật. Như vậy, tòa án phải có khả năng và trên thực tế không phụ thuộc vào bất kì ai, không ai có thể gây tác động tới tòa án để làm sai lệch “cán cân công lí” mà tòa án có sứ mệnh phải giữ gìn. Chỉ khi nào thẩm phán và hội thẩm thật sự độc lập thì điều đó mới có thể trở thành hiện thực.

Nguyên tắc độc lập tư pháp cũng là điều kiện quan trọng để bảo đảm nguyên tắc pháp quyền (mối quan hệ này đã được phân tích ở Chương X).

Khi nói tới nguyên tắc tư pháp độc lập là nói tới các biện pháp bảo đảm sự độc lập của thẩm phán và hội thẩm. Thẩm phán và hội thẩm đều là con người. Họ không thể xét xử độc lập nếu việc xét xử có liên quan tới lợi ích của ai đó có quyền năng gây ảnh hưởng lên họ. Như vậy, chính các biện pháp bảo đảm, chứ không phải sự dũng cảm của thẩm phán, mới làm nên sự độc lập của thẩm phán và qua đó là sự độc lập của tòa án. về mặt lí luận, một quốc gia có thể áp dụng nhiều biện pháp để bảo đảm sự độc lập của thẩm phán khi xét xử, ví dụ về bảo đảm sự nghiệp, bảo đảm thu nhập, bảo đảm về công việc, nghề nghiệp... Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 cũng đã có những quy định thể hiện sự chú trọng tới các biện pháp bảo đảm sự độc lập của thẩm phán ở mức độ cao hơn nhiều so với trước đây.

Các quy định về Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp như thế nào?

Điều 102.

1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.

2. Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định.

3. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Điều 103.

1. Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.

2. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.

3. Tòa án nhân dân xét xử công khai. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín.

4. Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.

5. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm.

6. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.

7. Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm.

Điều 104.

1. Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác, trừ trường hợp do luật định.

3. Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

Điều 105.

1. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án khác do luật định.

2. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Chế độ báo cáo công tác của Chánh án các Tòa án khác do luật định.

3. Việc bổ nhiệm, phê chuẩn, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Thẩm phán và việc bầu, nhiệm kỳ của Hội thẩm do luật định.

Điều 106.

Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Điều 107.

1. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.

2. Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định.

3. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Điều 108.

1. Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Viện trưởng các Viện kiểm sát khác và của Kiểm sát viên do luật định.

2. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Chế độ báo cáo công tác của Viện trưởng các Viện kiểm sát khác do luật định.

Điều 109.

1. Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

2. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân.