Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

Cơ sở pháp lý: 

- Hiến pháp năm 2013

- Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014

- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

1. Khái niệm hoạt động tư pháp

Trong lý luận và thực tiễn tổ chức hoạt động tư pháp của Việt Nam từ năm 1945 đến nay, tuy không có văn kiện chính thức nào giải thích rõ khái niệm hoạt động tư pháp nhưng đại đa số ý kiến cho rằng hoạt động tư pháp bao gồm hoạt động xét xử, điều tra, công tố (truy tố) và thi hành án. Tuy vậy, trong giới luật gia cũng còn ý kiến cho rằng hoạt động điều tra, công tố, thi hành án không phải là hoạt động tư pháp mà là hoạt động thuộc nhánh hành pháp. Song thực tế để thực hiện quyền tư pháp cần có những hoạt động xét xử, điều tra, công tố, thi hành án và các hoạt động bổ trợ tư pháp.

1.1. Hoạt động sét xử của Tòa án

Trong hệ thống tư pháp, Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm. Vai trò của Tòa án được thể hiện tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Như vậy, xét xử được xác định là hoạt động đặc quyền của Tòa án và cũng là hoạt động đặc thù của việc thực hiện quyền tư pháp, được tiến hành theo một thủ tục đặc biệt nhất của Tòa án mà không cơ quan nào khác của nhà nước có được.

Thực hiện quyền tư pháp là hoạt động mang tính tổng hợp, có tính bao quát toàn bộ hoạt động của Tòa án nhân dân, trong đó hoạt động xét xử là quan trọng nhất, đặc trưng nhất. Hiến pháp còn quy định Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Với tinh thần cải cách tư pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định nhiều quyền năng cho Tòa án nhân dân. Theo đó, khi thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự, Tòa án nhân dân có quyền: Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do luật sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp; khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cẩu Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác trình bày về các vấn đề có liên quan đến những vụ án tại phiên tòa; khởi tố án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm; ra quyết định để thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bên cạnh đó, Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của luật tố tụng. Tòa án còn có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính; xem xét đề nghị của cơ quan quản lý nhà nước và quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo quy định của pháp luật. Ra quyết định thi hành bản án hình sự, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, giảm hoặc miễn chẫp hành hình phạt, xóa án tích, miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản nộp ngân sách nhà nước; thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật Hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Luật Thi hành án dân sự. Ra quyết định hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ chấp hành biện pháp xử lý hành chính do Tòa án áp dụng và thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản pháp luật bị kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án. Bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; phát triển án lệ.

Để bảo đảm công lý, quyền con người, bảo vệ các quyền và lợi ích của công dân, pháp luật quy định Tòa án không được từ chối thụ lý xét xử các vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Quy định này mang ý nghĩa thực tiễn và nhân văn sâu sắc nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân

1.2. Hoạt động của Cơ quan điều tra

Nhưng hoạt động tư pháp không chỉ giới hạn bởi hoạt động xét xử của Tòa án. Đối với vụ án hình sự, điều tra với tính cách là một giai đoạn tố tụng hình sự, có vai trò rất quan trọng của quá trình giải quyết vụ án hình sự. Sau khi vụ án hình sự được khởi tố, hoạt động điều tra được tiến hành với việc áp dụng các biện pháp điều tra do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm xác minh hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố. Quá trình điều tra phải tôn trọng sự thật khách quan, tiến hành điều tra một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định bị can có tội và những chứng cứ chứng minh bị can vô tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can. Nếu hoạt động điều tra vụ án hình sự đạt kết quả tốt sẽ là cơ sở để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Ngược lại, nếu giai đoạn điều tra không tốt dễ dẫn đến những sai sót, thậm chí bế tắc của cả quá trình tố tụng hình sự.

1.3. Hoạt động của Viện kiểm sát

Đối với Viện kiểm sát, theo Hiến pháp năm 2013, Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Ở đây, khái niệm công tố được thực hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Chức năng công tố hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là thực hiện việc buộc tội trước Tòa án mà bao gồm các hoạt động liên quan đến việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, quyết định áp dụng điều tra, các biện pháp ngăn chặn, kết luận điều tra, truy tố bị can trước Tòa án, thực hiện việc buộc tội bị cáo trước Tòa án và đề nghị hình thức trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hoạt động điều tra và kết quả của hoạt động điều tra là căn cứ cho việc truy tố và cho việc luận tội. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp luật thông qua các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Thực chất chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân là bảo vệ pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm cho mọi tội phạm và vi phạm pháp luật đều được phát hiện, xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, bảo đảm việc giải quyết các vụ án đúng pháp luật, nghiêm minh, đồng thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân phù hợp với chức năng được giao đảm nhiệm. Bởi lẽ, khi tiến hành tố tụng, Viện kiểm sát không chỉ đóng vai trò của một bên (bên công tố, buộc tội) như pháp luật một số nước, mà còn được giao trách nhiệm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, chống làm oan người vô tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm một cách trái pháp luật.

1.4. Hoạt động của Cơ quan thi hành án

Thi hành án là việc đưa các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án ra thi hành. Thi hành án là hoạt động, là khâu cuối cùng trong việc thực hiện quyền tư pháp. Nhiều ý kiến cho rằng thi hành án là hoạt động tư pháp, là một giai đoạn của quá trình tố tụng. Ý kiến khác cho rằng, thi hành án là hoạt động hành chính hoặc hành chính - tư pháp, mang tính chất “lưỡng tính” giữa hành chính và tư pháp, nối dài giữa tư pháp và hành chính.

Quan điểm cho rằng thi hành án là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng, là sự tiếp nối để hiện thực hóa các bản án, quyết định của Tòa án, giải quyết các nhiệm vụ cụ thể xuất phát từ mục đích chung của hoạt động tố tụng là hợp lý hơn cả. Việc Tòa án tuyên bản án, quyết định chưa phải là đã kết thúc hoạt động tư pháp, bởi vì công lý chỉ thực sự được thực hiện khi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành đầy đủ. Quyền tư pháp có được thực thi trên thực tế hay không đều phụ thuộc vào hoạt động thi hành án. Nếu thi hành án được hoàn thành có nghĩa là quyền tư pháp đã được tổ chức thực hiện trọn vẹn. Vì vậy, thi hành án phải là bộ phận không thể tách rời của hoạt động tư pháp, thể hiện hiệu lực của quyền tư pháp. Thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, tức là thi hành một văn bản áp dụng pháp luật, một quyết định của cơ quan tư pháp, không phải là triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật hay quyết định hành chính cá biệt. Cơ quan thi hành án không phải cơ quan tiến hành tố tụng nhưng là cơ quan có nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động tư pháp, gắn với giai đoạn tố tụng thi hành án.

Như vậy, hoạt động tư pháp và hoạt động tố tụng là hai vấn đề không hoàn toàn giống nhau. Hoạt động tố tụng là hoạt động tư pháp nhưng không phải mọi hoạt động tư pháp đều là hoạt động tố tụng. Do sự phân công trong bộ máy nhà nước, các cơ quan tiến hành tố tụng là các cơ quan tư pháp, nhưng không phải tất cả các cơ quan tham gia hoạt động tư pháp là cơ quan tiến hành tố tụng. Bởi vị trí, vai trò quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong việc giải quyết vụ án là căn cứ để khẳng định rằng chỉ các cơ quan này mới là cơ quan tiến hành tố tụng.

Còn các cơ quan tham gia hoạt động tư pháp không phải là cơ quan tiến hành tố tụng nhưng được phân công thực hiện một số hoạt động tư pháp. Do vậy, khái niệm “hoạt động tư pháp” được gián tiếp định nghĩa trong một quy phạm pháp luật hình sự về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định tại Điều 230: “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, của các tổ chức xã hội và của công dân”. Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định tại Điểu 292: “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”. Đến Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đầy gọi chung là Bộ luật Hình sự năm 2015) quy định tại Điều 367: “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng và thi hành án”.

Từ những phân tích trên có thể hiểu hoạt động tư pháp bao gồm hoạt động tố tụng và thi hành án.

2. Khái niệm bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp

Hoạt động tư pháp được thực hiện dựa trên những nguyên tắc dân chủ, mang tính chất nền tảng với mục tiêu là bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Đó là những quy định cơ bản, mang tính chung nhất và có tính chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động tư pháp, đa phần được ghi nhận trong đạo luật cơ bản của Nhà nước là Hiến pháp do ý nghĩa chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, được cụ thể hóa trong các luật về tổ chức các cơ quan tư pháp và các luật về tố tụng tư pháp.

Trong lĩnh vực tư pháp, quyền con người, quyền công dân được quy định và bảo đảm thực hiện chặt chẽ. Cải cách tư pháp đã làm thay đổi tư duy pháp lý về vai trò và tầm quan trọng của tư pháp và quyền tư pháp trong sự phân công quyền lực nhà nước.

Hiến pháp năm 2013 và pháp luật tố tụng tư pháp đã bổ sung nhiều quy định mới nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân như:

- Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử nhằm bảo đảm cho việc xét xử công bằng, dân chủ, khách quan;

- Nghiêm cấm tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Tòa án;

- Bổ sung một số nguyên tắc bảo vệ quyền dân sự như quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

 Các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền của người bị tình nghi phạm tội theo nguyên tắc suy đoán vô tội như một cam kết của Nhà nước trong việc bảo vệ công lý và bảo vệ quyền con người. Đồng thời, Hiến pháp còn quy định người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại vê vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự; chính sách hình sự đi theo hướng nhân văn, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện khi xử lý người phạm tội. Đó là những tiến bộ đáng kể trong tiến trình cải cách tư pháp hướng đến việc bảo vệ quyền con người như mục tiêu cải cách tư pháp đề ra.

Trong Nhà nước pháp quyền diễn ra xu hướng chuyển từ việc công nhận về hình thức các quyền con người, quyền công dân sang bảo đảm quyền con người trên thực tế. Trong lĩnh vực tư pháp, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyển được pháp luật quy định, có mục đích chung là bảo vệ công lý, bảo vệ quyển con người.

Nhưng trong hoạt động của các cơ quan này lại dễ để xảy ra các vi phạm quyền con người, quyền công dân. Vì vậy, việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì nơi công lý, quyền con người cần được bảo vệ thì không cho phép xảy ra vi phạm các quyền con người. Từ đặc điểm này cho thấy các biện pháp bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp khác so với lập pháp và hành pháp ở chỗ chúng phụ thuộc vào ba yếu tố:

1) Các nguyên tắc hiến định mang tính chất nền tảng cho hoạt động tư pháp (bảo đảm tranh tụng trong xét xử, bình đẳng trước pháp luật và trước Tòa án, quyền bào chữa, quyền tự định đoạt, quyền suy đoán vô tội...);

2) Mô hình tố tụng (được xác định trong các luật về tổ chức và hoạt động tư pháp): mô hình tố tụng thẩm vấn - xét hỏi; mô hình tố tụng tranh tụng; mô hình tố tụng kết hợp giữa thẩm vấn và tranh tụng. Hiện nay, mô hình tố tụng tư pháp của Việt Nam là mô hình kết hợp giữa thẩm vấn và tranh tụng nên cách thức bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp kết hợp được những yếu tố của mô hình tố tụng thẩm vấn với những yếu tố hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng;

3) Sự hiện diện của các chế định mang tính truyền thống của tư pháp như đại diện nhân dân tham gia xét xử (Hội thẩm); chế định kháng cáo, chế định khiếu nại, tố cáo; chế định về thời hạn nghiêm ngặt (tạm giữ, tạm giam, thời hạn xét xử...). Các yếu tố nói trên tương tác với nhau trong thể thống nhất và đều tác động đến các biện pháp pháp lý bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp.

Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nội dung "Khái niệm bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp". Bạn đọc có vướng mắc pháp lý cần được hỗ trợ vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm & biên tập)