1. Khuất tất sau một vụ tranh chấp cổ phần?

Công ty cổ phần gốm sứ Thái Bình có vốn điều lệ 2,5 tỷ đồng, chia thành 250.000 cổ phần cho 272 cổ đông.
Tháng 4-2008, Đại hội đồng cổ đông công ty nhất trí thông qua kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 2,5 tỷ lên 5 tỷ đồng (chia thành 500.000 cổ phàn) theo phương thức phát hành cổ phiếu phổ thông để huy động vốn. Danh sách cổ đông được lập đưa quá nửa số người lao động chưa có cổ phần tại công ty vào trong khi nhiều cổ đông của công ty lại không có tên.
Ngày 15-2-2009, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty ký nghị quyết chào bán 12.280 đồng/cổ phần. Theo đó, thành viên Hội đồng quản trị mỗi người được mua 10.000 cổ phần. Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc được mua thêm 10.000 cổ phần, Phó Giám đốc được mua thêm 5.000 cổ phần, Trường, phó các phòng, quàn đốc... mỗi người được mua thêm 10.000 cổ phần, kế toán trưởng được mua thêm 5.000 cổ phần, nhân viên quản lý là 2.000 cổ phần/người,
người lao động làm việc thường xuyên mỗi người được mua thêm 300 cổ phần.
Xác minh trước Tòa án, chỉ có 40% số người được mua cổ phần theo sự phân chia này là lao động của công ty. Còn các cổ đông không phải là lao động của công ty hoàn toàn không được mua.
Cổ đông của công ty khởi kiện yêu cầu được trả lại quyền mua đúng, mua đủ cổ phần mới phát hành theo tỷ lệ vốn họ đang sở hữu. Nguyên đơn cũng đề nghị tòa hủy Nghị quyết ngày 15-2-2009 về chào bán cổ phần mới.
Chủ tịch Hội đồng quản trị trình bày, việc phát hành cổ phần mới lần này ưu tiên cho người quản lý và người lao động với mục đích là để gắn thêm trách nhiệm, tâm huyết của người lao động với công ty.
Nguồn: Dantrỉ.com.vn, 23-5-2005.

2. Bầu dồn phiếu : tỷ lệ bao nhiêu thì đủ?

Tòa án nhân dân Thành phố H. tuyên hủy một nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông của một công ty cổ phần khi nghị quyết này thông qua việc bầu một thành viên Hội đồng quản trị với tỷ lệ 62,83% tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông dự họp chấp thuận với lý do: “Neu thực hiện việc bầu dồn phiếu thì vẫn phải bảo đảm tỷ lệ 65% tổng sổ phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp chấp thuận như quy định tại khoản 3 Điều 104 Luật doanh nghiệp năm 205”. vấn đề dường như không phải như vậy.
Bầu dồn phiếu là gì?
Trong công ty cổ phần, người bỏ vốn thành lập công ty
(cổ đông) không trực tiếp quản lý công ty mà việc quản lý được giao cho người khác. Những người này sẽ thay mặt và thực hiện việc quản lý vì lợi ích của cổ đông. Nhưng trong Đại hội đồng cổ đông tồn tại nhiều cổ đông với các nhóm lợi ích khác nhau. Ai cũng muốn có người đại diện trong cơ quan quản lý này để phản ánh tiếng nói của mình. Để thành lập cơ quan này, các cổ đông cùng nhau họp lại để bầu lên cơ quan quản lý (Hội đồng quản trị) trên cơ sở một danh sách xác định các ứng viên. Theo đó, người nào nắm vốn nhiều thì đề cử nhiều, cổ đông ít vốn thì đề cử ít người hơn trong danh sách đó.
Pháp luật về công ty quy định cứ mỗi cổ phần thì có một phiếu biểu quyết . Như vậy, ai vốn nhiều thì phiếu bầu sẽ nhiều. Già sử công ty có 3 cổ đông với tỷ lệ là 51%, 38% và 11%. Tình huống là cần bầu 5 thành viên Hội đồng quản trị trong sổ 8 ứng viên. Nếu theo cách bầu bình thường, mặc dù cổ đông thứ 3 có đề cử người nhưng họ sẽ không thể đưa người mình đã đề cừ vào Hội đồng quản trị được vì số phiếu của họ quá thấp. Theo nguyên tắc, để bầu năm thành viên, cổ đông thứ 3 sẽ có năm lần bỏ phiếu nhưng cổ đông này chi bỏ được cho người mà họ đề cử một lần còn lại sẽ bỏ cho các người khác (do các cổ đông khác đề cử) hoặc là bỏ trống. Nói cách khác, họ chỉ sử dụng 1/5 số phiếu mà họ có.
Như vậy, cách thức bầu bình thường làm cho quyền lợi của các cổ đông nhỏ trong công ty không được bảo đảm. Từ đó, pháp luật về công ty mới có phương pháp bầu dồn phiếu. Theo đó, có sự khác biệt lớn giữa bầu bình thường và bầu dồn phiếu. Cụ thể, trong trường hợp bình thường cổ đông chỉ một lần bầu cho người mà mình đề cử. Với phương thức bầu dồn phiếu, cổ đông số 3 sẽ có quyền cộng dồn tất cả số phiếu mà họ có để bầu cho một hoặc một số người mà họ đề cử . Kêt quà số phiếu trong trường hợp này sẽ nhiều hơn so với chỉ sử dụng 1/5 như trường hợp bình thường.

3. Hội đồng quản trị có nhiệm kỳ hay không?

Một tranh chấp về quản trị nội bộ trong một công ty lớn tại Vỉệt Nam đã làm nảy sinh vấn đề trên. Theo đó, đây là một công ty đã niêm yết trên thị trường chứng khoán . Trong nội bộ công ty chia thành hai nhóm cổ đông đối họng với nhau là cổ đông A sở hữu 43% và B sở hữu 40% cổ phần phổ thông. Vấn đề là trong việc bầu ra Hội đồng quản trị, mỗi lần tiến hành, công ty này chỉ bầu 1/3 số thành viên. Do đó, việc thay thế các thành viên Hội đồng quản trị (trong trường hợp bình thường, thành viên không bị bãi nhiệm hoặc từ chức đột xuất) khi thành viên hết nhiệm kỳ 5 năm theo quy định trong luật doanh nghiệp. Cũng vì thế mà cổ đông A cho rằng, Hội đồng quản trị của công ty này không có nhiệm kỳ, là không phù hợp với quy định của pháp luật về doanh nghiệp hiện hành.
Vẩn đề:
Hội đồng quản trị có cần nhiệm kỳ hay không?
Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị và nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị có đồng nhất hay không?
Khoản 1 Điều 109 Luật doanh nghiệp năm 205 quy định: '''‘Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là năm năm. Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không quá năm năm”. Nói một cách hình tượng, Hội đồng quàn trị như một cỗ máy, các thành viên Hội đồng quản trị là các chi tiết của cỗ máy đó. Theo đó, cỗ máy luôn có niên hạn sử dụng, giả sử là 10 năm, các chi tiết máy cũng có niên hạn theo niên hạn này. Tuy vậy, trong quá trình hoạt động có thể có một hoặc vài chi tiết máy bị hỏng. Cách xử lý trong trường hợp này rất đơn giản, chi cần thay thế các chi tiết máy hỏng. Như vậy, mặc dù cỗ máy có niên hạn sử dụng là 10 năm, các chi tiết máy thì có thể chỉ sử dụng được tối đa là 10 năm, nhưng cũng có thể ngắn hơn. Khi cỗ máy hết niên hạn sử dụng, các chi tiết máy tự thân nó không thể hoạt động độc lập nên nguyên tắc chung là người ta sẽ bỏ đi cùng với cái máy. Trong trường hợp có một chi tiết nào đó mới được thay gần đây, người chủ có thể giữ lại. Nhưng chi tiết này phải được gắn vào trong một cỗ máy khác để hoạt động đồng bộ trong cỗ máy mới.
Câu chuyện về tương quan giữa thành viên Hội đồng quàn trị và Hội đồng quản trị tương tự như giữa cỗ máy với các chi tiết vừa phân tích. Hội đồng quản trị là cỗ máy, còn thành viên Hội đồng quản trị là các chi tiết máy. Bởi thế khoản 1 Điều 109 Luật doanh nghiệp năm 205 quy định "Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là năm năm. Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không quá năm năm Cũng như cỗ máy là trong quá trình hoạt động, công ty vẫn có thể nâng cấp cỗ máy Hội đồng quản trị bằng việc thay thế một hoặc vài chi tiết thành viên. Nguyên tắc nâng cấp cỗ máy Hội đồng quản trị được Luật doanh nghiệp năm 205 quy định: “Trường hợp có thành viên được bầu bổ sung hoặc thay thế thành viên bị miễn nhiệm, bãi nhiệm trong thời hạn nhiệm kỳ thì nhiệm kỳ của thành viên đó là thời hạn còn lại của nhiệm kỳ Hội đồng quản trĩ' (khoản 3 Điều 109).
Trở lại tình huống ở trên, việc công ty chỉ bầu 1/3 thành viên Hội đồng quản trị cho mỗi lần và chỉ thay thế thành viên Hội đồng quàn trị khi thành viên hết nhiệm kỳ 5 năm là sai.
Vì cách làm này đã vô tình làm cho cỗ máy Hội đồng quản trị không còn niên hạn sử dụng là 5 năm theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 205.
Với việc nắm giữ 43% cổ phần phổ thông thì cổ đông A đang nắm một lợi thế lớn trong việc đề cử và bầu cử thành viên Hội đồng quản trị của công ty. Theo đó, cổ đông có quyền đề cử tối đa là 4 người trong cuộc bầu cử Hội đồng quản trị . Nếu A tìm được sự đồng thuận từ nhóm cổ đồng nhỏ còn lại, cơ hội để A kiểm soát Hội đồng quàn trị công ty là rất lớn. Tuy vậy, với cách thức bầu cử được áp dụng theo tỷ lệ 1/3 thành viên cho mỗi lần như được đề cập ở tình huống này khả năng này của A đã bị hạn chế rất nhiều.
Trong điều kiện A là một cổ đông ngoại có tiềm lực tài chính lớn, có nhiều nghi vấn liên quan đến chuyện A đang thực hiện chiến lược thôn tính công ty. Khi muốn vươn lên một vị trí/ quy mô lớn hơn, con đường đại chúng hóa là con đường tất yếu. Do vậy, một khi nhà đầu tư đã chấp nhận đầu tư vào công ty theo quy định của pháp luật thì họ có quyền kiểm soát các khoản đầu tư của mình thông qua việc quyết định tại Đại hội đồng cổ đông, đề cử và bầu người vào Hội đồng quản trị. Đây cũng là câu chuyện bình thường nhìn từ góc độ quàn trị công ty. Nếu cần bàn về việc “tự vệ” của các doanh nghiệp nội trước làn sóng thôn tính của các đối thủ ngoại, nó thuộc về chiến lược kinh doanh mà không liên quan đến pháp luật về quản trị.
Theo nguồn: Phạm Hoài Huấn: Hội đồng quản trị có nhiệm kỳ hay không? Báo Diễn đàn doanh nghiệp, ngày 1-11-2013.

4. Hội đồng quản trị thay giám đốc dễ hay khó

Một vấn đề tưởng như quá rõ ràng, Hội đồng quản trị thay Giảm đốc thì có gì phải bàn cãi. Vì pháp luật về công ty thừa nhận Hội đồng quản trị là cơ quan có quyền lập ra Giảm đốc. Thì hẳn nhiên, Hội đồng quản trị cũng sẽ là cơ quan có quyền bãi miễn, thay thể Giám đốc. Trên thực tế có một tranh chấp phát sinh liên quan đến vấn đề bổ nhiệm Giám đổc mới. Theo đó, Công ty A cỏ Giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Tình huống là Hội đồng quản trị bổ nhiệm một Giám đốc mới, thay thể cho Giám đốc cũ. Tuy vậy, một nhóm cổ đông sở hữu 27% cổ phần phổ thông không đồng ỷ với quyết định này.
Điều lệ của công ty
Điều lệ của công ty được coi như một bản hợp đồng của các cổ đông. Đã gọi là hợp đồng thì các bên tùy ý thỏa thuận. Tuy nhiên, giới hạn của sự tùy ý là phải trong khuôn khổ của pháp luật. Để thuận tiện cho các nhà đầu tư khi thành lập công ty, pháp luật đặt ra những yêu cầu mà các nhà đầu tư cần tuân thủ khi xây dựng Điều lệ. Trong pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam, nguyên tắc này được quy định trong Điều 22 Luật doanh nghiệp năm 205. Theo đó, có 15 nội dung mà các bản Điều lệ bắt buộc phải có. Ngoài ra có thể quy định thêm, miễn là không trái với các nguyên tắc của pháp luật về doanh nghiệp.
Một trong các nội dung bắt buộc phải ghi nhận trong Điều lệ công ty là về người đại diện theo pháp luật. Bản chất của việc ghi nhận này có hai mục đích:
- Thuận tiện cho các bên trong quá trình giao dịch với công ty;
- Ràng buộc trách nhiệm của công ty bởi các hành vi của người đại diện.
Thẩm quyền của Hội đồng quản trị
Đại hội đồng cổ đông bầu ra Hội đồng quản trị thay mình quản lý công ty. Đến lượt mình, Hội đồng quàn trị bổ nhiệm Giám đốc để điều hành hoạt động hằng ngày của công ty. về mặt lý thuyết, Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông lập ra, nên Hội đồng quản trị hoạt động vì lợi ích của các cổ đông. Nhưng trên thực tế, Đại hội đồng cổ đông bị phân hóa bởi nhiều nhóm cổ đông với nhiều lợi ích khác nhau. Vì thế, hệ quả là Hội đồng quản trị cũng phân hóa theo các nhóm lợi ích của cổ đông đã bầu ra mình.
Trong công ty cổ phần, người đại diện theo pháp luật có thể là Chủ tịch hoặc Giám đốc. Với chức năng là người điều hành hoạt động hằng ngày của cồng ty, thực tế có khuynh hướng giao vai trò người đại diện theo pháp luật cho Giám đốc. Vì vậy, khoản 1 Điều 116 Luật doanh nghiệp năm 205 quy định: “Trường hợp Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật thì Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công tý\ Nói như thế không có nghĩa là nếu Điều lệ không có quy định Chủ tịch là người đại diện thì suy đoán Giám đốc là người đại diện, về mặt pháp lý cũng như thực tiễn về đăng ký doanh nghiệp không chấp nhận phương án suy đoán. Nhưng điều đó nói lên một khuynh hướng khá phổ biến, thường Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Rắc rối cũng từ đây mà ra. Theo quy định của Điều 22 Luật doanh nghiệp năm 205, Điều lệ công ty phải ghi nhận người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (khoản 8). Vấn đề là Điều lệ công ty ghi chức danh hay ghi tên người? Phương án được cơ quan đăng ký kinh doanh chấp nhận là cả hai. Có nghĩa là ở mục đại diện theo pháp luật phải xác định rõ ai là người đại diện theo pháp luật và người ấy giữ chức vụ gì (Chủ tịch hay Giám đốc).
Trờ lại với tình huống được nêu ở trên. Hội đồng quản trị miễn nhiệm Giám đốc để bổ nhiệm Giám đốc mới. vấn đề này thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị, nhóm cổ đông nắm giữ 27% cổ phần phổ thông không có ý kiến gì. Nhưng vì Giám đốc là người đại diện theo pháp luật, được ghi nhận trong điều lệ, do vậy thay đổi Giám đốc khác cũng đồng nghĩa là phải sửa đổi Điều lệ của công ty. Nhưng khi muốn sửa đổi Điều lệ, vấn đề không còn thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị nữa mà đã thuộc quyền của Đại hội đồng cổ đông. Đến đây, không có sự đồng ý của nhóm cổ đông nắm giữ 27% cổ phần phổ thông thì không sửa đổi Điều lệ được .
Như vậy, mặc dù việc bổ nhiệm Giám đốc mới được Hội đồng quản trị tiến hành theo đúng quy định của pháp luật nhưng không thể thực hiện được vì lý do thủ tục.
Người đại diện của công ty: chức danh hay con người?
Công ty là một “con người” do pháp luật tạo ra, có nghĩa là việc thực hiện các chức năng của công ty phải thông qua người đại diện. Ông A, ngoài xã hội là một con người cụ thể với các mối quan hệ phức tạp. Khi vào công ty, ông không hành xử với tư cách là ông A nữa mà là Giám đốc công ty. Ông có quyền năng tương ứng với vị trí mà ông đang đảm nhiệm. Đe có được quyền hạn này, ông phải được công ty đồng ý trao quyền. Nhưng khi công ty trao quyền cho Giám đốc, công ty phải chịu trách nhiệm về các hệ quả pháp lý do Giám đốc thực hiện khi nhân danh công ty. Sau này, công ty đổi ông Giám đốc B, công ty vẫn phải chịu trách nhiệm với các giao dịch do ông Giám đốc A đã thực hiện. Công ty không thể lấy lý do là đã đổi Giám đốc nên không chịu trách nhiệm. Các bên muốn khiếu nại công ty, cũng trưng ra bằng chứng là họp đồng do Giám đốc ký, mà không quan tâm ông Giám đốc ấy hiện thời còn tại vị hay không. Khoa học pháp lý nói pháp nhân độc lập với các cá nhân, tổ chức khác là như vậy.
Cũng vì lẽ đó, pháp luật về doanh nghiệp quy định: Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng Giảm đốc là người đại diện theo pháp luật của cóng ty được quy định tại Điều lệ công ty (theo Điều 116 Luật doanh nghiệp năm 205). Quy định này là hợp lý. Nhưng khi thực thi, cơ quan đăng ký kinh doanh lại quá cẩn thận khi yêu cầu các doanh nghiệp phải chỉ rõ tại thời điểm đăng ký ai đang là người đại diện theo pháp luật với chức vụ là gì. Thiết nghĩ, yêu cầu này của cơ quan quản lý hợp lý trên một vài khía cạnh nhưng nhìn tổng thể, nó lại tỏ ra không ổn. Vì ông B có thể thay thế ông A, nhưng chức danh Giám đốc thì không thay đổi với bấy nhiêu quyền và nghĩa vụ được quy định trong luật và điểu lệ. Nó vẫn bảo đảm việc ràng buộc trách nhiệm đối với công ty. Chưa kể, việc xác định người đại diện theo pháp luật trong tình huống nêu trên có thể gây ra những phiền toái không cần thiết trong việc phải sửa đổi Điều lệ và vô hiệu hóa quyền của Hội đồng quản trị trong việc bổ nhiệm người điều hành (Giám đốc).
Theo nguồn: Phạm Hoài Huấn: Hội đồng quàn trị thay Giám đốc: Dễ hay khỏ?, Báo Diễn đàn doanh nghiệp, ngày 18-10-2012.

5. Vai trò của chủ tịch và ceo ?

Vai trò của Chủ tịch và CEO tiếp tục là vấn đề nan giải, gây tranh cãi và chưa có lời đáp trong kiểm soát quản trị. Cho dù đã có nhiều nhà bình luận sử dụng cụm từ “Chủ tịch của công ty - Chairman of the company”, nhưng trên thực tế, Chủ tịch là chủ tịch của Hội đồng quản trị chứ không phải chủ tịch của công ty. Luật về công ty đề cập tương đối ít về vai trò cụ thể của chủ tịch. Chính những luật lệ nền tảng hay Điều lệ của công ty mới xác định cách thức bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị (điển hình là bằng một quyết định đơn giản của Hội đồng quản trị), trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị và các khía cạnh khác của vị trí này. Ngược lại, Tổng Giám đốc điều hành (CEO hay “managing director” ở một số nơi) lại là nhân viên của công ty, là một thành viên của ban điều hành.
Một câu hỏi quan trọng cho kiểm soát quản trị hiện đại là liệu vai trò của Chủ tịch và CEO nên tách biệt hay nên kết hợp
trong một người. Quan điểm của tất cả các bộ thông lệ tốt về kiểm soát quản trị là nên tách biệt hai vai. trò này.
Vai trò của Chủ tịch và CEO không nên được thực hiện đồng thời bởi một cá nhân. Việc phân chia trách nhiệm giữa Chủ tịch và CEO nên được thực hiện một cách rõ ràng, trình bày dưới dạng văn bản và được cả Hội đồng quản trị thống nhất. Lập luận ở đây là việc tách biệt mang lại quan hệ hai mặt ở cấp lãnh đạo cao nhất trong công ty, tạo ra một cơ chế kiểm soát và cân bằng, tránh các khả năng lạm dụng nếu quyền lực tập trung vào tay một người, cho phép CEO tập trung vào việc điều hành hoạt động kinh doanh trong khi chù tịch xử lý hoạt động của Hội đồng quản trị và các mối quan hệ với cổ đông và các chủ thể có quyền lợi liên quan không theo hợp đồng như Chính phủ, các cơ quan quản lý và phương tiện thông tin đại chúng.
Cho dù nhiều nơi trên thế giới, người ta hết sức khuyến nghị rằng Chù tịch và CEO nên tách biệt, nhưng ở Hoa Kỳ, các vai trò này thường được kết hợp với nhau. Để biện minh cho việc kết hợp hai vai trò này, người ta đưa ra các lập luận rằng các công ty năng động chỉ cần có một lãnh đạo; rằng việc phân chia trách nhiệm lãnh đạo giữa hai người dễ dẫn đến sự mâu thuẫn, rằng các công ty Hoa Kỳ đã hoạt động thành công trong nhiều thế hệ. Trong những năm gần đây, tiếp theo một số vụ sụp đổ công ty hết sức lớn và nghiêm trọng ở Hoa Kỳ mà hầu hết là do việc lạm dụng quyền lực của người đứng đầu công ty, các nhà đầu tư đang kêu gọi tách rời hai vai trò này. Tuy nhiên, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi quan điểm này bị từ chối bời những người đang nắm giữ cả hai vai trò kết hợp, bởi việc phân tách sẽ làm suy giảm quyền lực của họ. Tuy nhiên, điều thú vị là, trong vụ sụp đổ ấn tượng nhất, vụ Enron, thì hai vai trò này lại được tách bạch!
Theo nguồn: Bob Tricker: Kiểm soát quản trị, Nxb. Thời đại, Hà Nội, 2012, tr. 120-121.