Mục lục bài viết
- 1. Khái quát chung
- 2. Khái niệm về thi hành án tín dụng ngân hàng
- 3. Đặc điểm thi hành án tín dụng ngân hàng
- 3.1 Thi hành án tín dụng ngân hành mang tính quyền lực của cơ quan quản lý nhà nước
- 3.2 Việc áp dụng luật trong thi hành án tín dụng ngân hàng rất đa dạng và linh hoạt
- 3.3 Thi hành án theo yêu cầu, tôn trọng thoả thuận và tự định đoạt của đương sự
- 3.4 Việc xác minh điều kiện thi hành án và xử lý tài sản đảm bảo mất nhiều thời gian
- 4. Vai trò của thi hành án tín dụng ngân hàng
- 4.1 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức tín dụng, ổn định nền kinh tế
- 4.2 THA tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao chất lượng xét xử, giải quyết tranh chấp về HĐTD ngân hàng
- 4.3 THA tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao ý thức pháp luật, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong xã hội
1. Khái quát chung
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các văn bản pháp luật hiện hành đã quy định về hoạt động thi hành án dân sự, hình sự, hành chính mang tính độc lập tương đối với hoạt động của cơ quan tư pháp trong các giai đoạn tố tụng. hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án là các giai đoạn khác nhau. Thi hành án dân sự là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết với các giai đoạn tố tụng trước đó nhưng vẫn mang tính độc lập tương đối, vì hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng cơ quan thi hành dân sự; hay nói cách khác: " tố tụng là quá trình đi tìm chân lí để áp dụng công lí còn thi hành án là quá trình thực thi chân lí bằng công lí". Theo Từ điển tiếng Việt: “Thi hành” có nghĩa là làm cho thành hiện thực điều đã được chính thức quyết định. Thi hành án dân sự là hoạt động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định để thi hành bản án, quyết định của Toà án hoặc các quyết định dân sự theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích về mặt thực tế của các chủ thể trong các quan hệ dân sự. Thi hành án tín dụng ngân hàng là một phần trong hoạt động thi hành án dân sự, do cơ quan THADS thực hiện theo trình tự, thủ tục và theo thẩm quyền luật định. Qua nghiên cứu, cụm từ “thi hành án tín dụng ngân hàng” có nhiều cách gọi hoặc viết khác nhau, nhưng về ý nghĩa và cách hiểu là giống nhau, ví dụ: thi hành án về tín dụng ngân hàng, thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng hoặc là thi hành án tín dụng ngân hàng….
2. Khái niệm về thi hành án tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là hình thức chủ yếu của nền kinh tế thị trường, nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế. Trong đó, hình thức phản ánh đặc trưng là mối quan hệ vay và trả nợ giữa một bên là các tổ chức tín dụng, ngân hàng và một bên là các nhà sản xuất kinh doanh hoặc cá nhân. Đây là hình thức tín dụng rất linh hoạt nhất trong các hình thức tín dụng vì đối tượng cho vay mượn là tiền tệ; chiều vận động nhiều do ngân hàng có thể cho vay với mọi thành phần kinh tế, thoả mãn nhu cầu của khách hàng từ những khoản vay nhỏ để trang trải chi tiêu trong gia đình đến các khoản vay lớn hơn để mở rộng sản xuất kinh doanh, phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội. Tại khoản 16, Điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, hoạt động cho vay được hiểu là: " Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi ".
Hiện nay, hoạt động tín dụng ngân hàng đang diễn ra ngày một nhiều và phức tạp. Đặc biệt, trong hoàn cảnh nước ta đang thực hiện chính sách hội nhập thế giới ngày càng sâu rộng, vì thế, những tranh chấp giữa các bên trong quan hệ tín dụng ngân hàng là điều không thể tránh khỏi. Tranh chấp tín dụng ngân hàng là những tranh chấp về hợp đồng tín dụng ( hợp đồng vay).
Những tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng này sẽ được giải quyết thông qua toà án hoặc trọng tài thương mại. Sau giai đoạn xét xử, giải quyết tranh chấp, những bản án, quyết định của toà án, phán quyết của trọng tài thương mại (nguyên đơn là các tổ chức tín dụng, ngân hàng và bị đơn là các cá nhân, tổ chức) đã có hiệu lực và đơn yêu cầu thi hành án của các tổ chức tín dụng, ngân hàng, cơ quan THADS tổ chức thi hành án theo trình tự, thủ tục, quyền hạn được pháp luật quy định để thu các khoản nợ cho tổ chức tín dụng, ngân hàng.
Vì vậy, bản chất của thi hành án tín dụng ngân hàng là một trong những hoạt động thi hành án dân sự nhằm thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật liên quan đến việc thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng, đảm bảo quyền lợi thực tế của các tổ chức tín dụng, ngân hàng. Từ những phân tích trên, có thể khái niệm về thi hành án tín dụng ngân hàng như sau: Thi hành án tín dụng ngân hàng là hoạt động của cơ quan THADS có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định để buộc cá nhân, tổ chức thi hành các nghĩa vụ trả nợ cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng theo bản án, quyết định của tòa án, phán quyết của trọng tài thương mại đã có hiệu lực thi hành.
3. Đặc điểm thi hành án tín dụng ngân hàng
Với khái niệm thi hành án tín dụng đã phân tích ở trên, có thể đưa ra một số đặc điểm của thi hành án tín dụng ngân hàng như sau:
3.1 Thi hành án tín dụng ngân hành mang tính quyền lực của cơ quan quản lý nhà nước
Trong hệ thống tổ chức bộ máy của Nhà nước bao gồm ba cơ quan thực hiện thi hành án hình sự, hành chính và dân sự. Trong đó, Tổng cục Thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự các cấp là cơ quan duy nhất có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý và tổ chức thi hành án dân sự. Mọi quyết định của cơ quan thi hành án có giá trị bắt buộc thực hiện đối với các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án dân sự. Luật Thi hành án dân sự quy định cơ quan thi hành án dân sự có quyền ra quyết định thi hành án dân sự, tổ chức cưỡng chế,.. Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả.
3.2 Việc áp dụng luật trong thi hành án tín dụng ngân hàng rất đa dạng và linh hoạt
Có thể thấy đặc điểm đa dạng và linh hoạt xuất phát từ sự đa dạng về chủ thể trong quan hệ hợp đồng tín dụng. Theo bản án, quyết định dân sự, chủ thể mà cụ thể là bên cho vay có quyền yêu cầu thi hành án làm cơ sở để cơ quan thi hành án dân sự áp dụng pháp luật, bên vay là bên có nghĩa vụ phải thi hành án trong các vụ án tín dụng ngân hàng. Người phải thi hành án có thể là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, doanh nghiệp, và các tổ chức khác, ... Về tài sản đảm bảo cũng là một yếu tố góp phần vào sự đa dạng và linh hoạt trong việc áp dụng pháp luật. Tài sản đảm bảo có thể là vật có giá trị như phương tiện giao thông, kim quý, máy móc thiết bị nhà xưởng...; giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi...; quyền tài sản như quyền sử dụng đất, quyền được nhận bảo hiểm, quyền khai thác tài nguyên, quyền góp vốn kinh doanh. hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
Do vậy, để giải quyết những vụ việc liên quan đến tín dụng ngân hàng một cách hiệu quả, chấp hành viên không chỉ áp dụng cứng nhắc một loại quy phạm pháp luật cụ thể nào mà cần áp dụng linh hoạt, đầy đủ các quy định của Luật Thi hành án, Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm, Luật Doanh nghiệp, Luật Nhà ở,...Việc áp dụng này cũng cần đảm bảo sự hiểu biết pháp luật sâu rộng, hiểu biết thực tế đời sống xã hội và sự linh hoạt trong cách giải quyết vụ việc của chấp hành viên.
3.3 Thi hành án theo yêu cầu, tôn trọng thoả thuận và tự định đoạt của đương sự
Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, một trong những căn cứ để thi hành án tín dụng ngân hàng là nội dung yêu cầu của các tổ chức tín dụng, ngân hàng về việc thanh toán nợ. Theo đó, các đương sự có thể thỏa thuận về nội dung yêu cầu thi hành án dân sự. Việc thỏa thuận về nội dung thi hành án chỉ được thực hiện trong trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu. Đối với một số bản án, đương sự không được thỏa thuận, trong trường hợp này, hoạt động thi hành án gọi là “chủ động thi hành án”, thu những khoản thu nộp ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả tiền, tài sản cho đương sự thì người phải thi hành án buộc phải thực hiện hoặc cơ quan thi hành án dân sự chủ động thực hiện mà không được thỏa thuận.[22]
Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận là nguyên tắc đặc trưng của pháp luật dân sự. Hoạt động thi hành án dân sự mà cụ thể là thi hành án tín dụng ngân hàng cũng không nằm ngoài nguyên tắc trên. Thỏa thuận thi hành án dân sự là sự tự nguyện của các đương sự, nghĩa vụ liên quan nhằm bày tỏ quan điểm, trao đổi về việc thi hành nội dung bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật, trên cơ sở quyền và nghĩa vụ dân sự đã được xác định tại quyết định, bản án đó. Thỏa thuận thi hành án dân sự thành công không chỉ đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự mà còn là biện pháp thi hành án hiệu quả, bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa các đương sự, nâng cao ý thức pháp luật của người dân, việc thi hành án được giải quyết nhanh gọn, rút ngắn thời gian, đỡ tốn kém về công sức tiền bạc để tổ chức thi hành án. Bên cạnh đó, nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận là nguyên tắc đặc trưng của pháp luật dân sự, xuất phát từ tính độc lập về sở hữu, tính tự chủ, tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm về tài sản của các chủ thể. Đây là nguyên tắc cơ bản bao trùm trong toàn bộ các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ của các chủ thể trong thi hành án dân sự nói riêng, trong đó có thi hành án tín dụng ngân hàng.
Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì các bên có liên quan trong bản án, quyết định sẽ trở thành chủ thể có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản, nhân thân hoặc đối với một công việc cụ thể. Pháp luật dân sự quy định cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện.
Trong thoả thuận thi hành án dân sự, các đương sự có quyền lựa chọn cả hình thức và nội dung thoả thuận, trừ hình thức và nội dung mà pháp luật quy định bắt buộc các bên phải tuân thủ khi xác lập thoả thuận dân sự. Về nội dung thoả thuận trong thi hành án dân sự, việc thoả thuận nói trên xuất phát từ bản chất của lợi ích của chính mình, phù hợp với lợi ích của bên kia và lợi ích của người có quyền, nghĩa vụ liên quan.Vì vậy, các bên có quyền thỏa thuận thay đổi, hoãn thi hành án, đình chỉ thi hành án hoặc các bên có quyền thoả thuận với nhau về các vấn đề liên quan đến việc thi hành án như: thời gian, địa điểm, phương thức thi hành.[15]
Thoả thuận thi hành án dân sự là biện pháp giải quyết hài hoà và hiệu quả, đặc biệt là đối với những vụ việc thi hành án về tín dụng ngân hàng. Thực tế cho thấy, việc thu hồi nợ tác động rất lớn đến lợi ích của người phải thi hành án và những người có nghĩa vụ liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ. Vì vậy, không thể tránh khỏi sự đối đầu, căng thẳng, thậm chí liều mạng chống đối việc thi hành. Tuy nhiên nghĩa vụ pháp lý không thể không thi hành, việc thi hành đòi hỏi chấp hành viên phải giải quyết vừa có lý vừa có tình, giải thích, thuyết phục người phải thi hành án, người có nghĩa vụ liên quan để họ nhận thức được pháp luật, trách nhiệm của mình. Hơn nữa, thủ tục xử lý tài sản đảm bảo cũng khá phức tạp từ việc kê biên, thẩm định giá, bán đấu giá, lựa chọn áp dụng biện pháp đảm bảo đối với tài sản, cưỡng chế ...Vì vậy chấp hành viên luôn giải thích và phân tích cho các bên đương sự về những quyền và nghĩa vụ của họ, để họ được bàn bạc, thống nhất ý kiến và phương án giải quyết trong từng giai đoạn thi hành án trước khi buộc phải áp dụng những biện pháp cưỡng chế.
3.4 Việc xác minh điều kiện thi hành án và xử lý tài sản đảm bảo mất nhiều thời gian
Xác minh thi hành án là một nghiệp vụ quan trọng trong công tác thi hành án dân sự. Đối với án tín dụng ngân hàng, những loại án có giá trị thi hành lớn, đòi hỏi chấp hành viên cần xác minh nhiều nguồn để nắm được thông tin về các loại tài sản cũng như điều kiện thi hành của người phải thi hành án. Bên cạnh đó, mặc dù phần lớn các hợp đồng tín dụng ngân hàng hiện nay đều có tài sản đảm bảo tuy nhiên việc xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi khoản nợ cho ngân hàng lại gặp rất nhiều khó khăn. Tài sản đảm bảo của khoản vay thường rất đa dạng nhưng chủ yếu là quyền sử dụng đất, máy móc, nhà xưởng hay những động sản có giá trị lớn.... dẫn đến việc xử lý những tài sản đảm bảo trên để thu hồi nợ sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến chủ sở hữu tài sản, đặc biệt là trong trường hợp chủ sở hữu tài sản đảm bảo cho mượn tài sản để thế chấp ngân hàng hay tài sản thế chấp là tài sản chung, rất khó để phân chia. Hơn thế nữa, sau khi phát mại tài sản đảm bảo, giá trị của tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán khoản nợ thì chấp hành viên vẫn tiếp tục xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án nhưng thực tế, hầu như người phải thi hành án đều không còn tài sản hay người phải thi hành án là tổ chức thì đã mất khả năng thanh toán hoặc không còn hoạt động kinh doanh.
Việc xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án là tổ chức cũng khá phức tạp. Một số nghiệp vụ chấp hành viên không thể tự thực hiện như các vấn đề liên quan đến xác định tư cách pháp nhân, các loại hình doanh nghiệp cũng như quyền, vốn và các khoản thu hoặc phân chia nghĩa vụ của các thành viên trong công ty để xác định nghĩa vụ thi hành án tương ứng...
4. Vai trò của thi hành án tín dụng ngân hàng
Cơ quan thi hành án các cấp nằm trong hệ thống tổ chức bộ máy của Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ quyền hạn nhất định, thực hiện chức năng chung của Nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế nhà nước. Vì thế, cơ quan THADS thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình là thể hiện ba vai trò cơ bản sau:
4.1 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức tín dụng, ổn định nền kinh tế
Ngày nay ngân hàng thương mại đã trở thành định chế tài chính không thể thiếu để vận hành nền kinh tế, đặc biệt với chức năng làm trung gian tín dụng, là “cầu nối” giữa người thừa và người thiếu vốn. Hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng và cần có những giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý và kiểm soát nợ xấu.
Một trong những yếu tố đóng góp tích cực vào công cuộc xử lý nợ xấu, bảo vệ quyền lợi của các tổ chức tín dụng, ngân hàng chính là công tác thi hành án dân sự. Việc thu hồi, giải quyết nợ xấu qua con đường thi hành án, được thực hiện bởi hệ thống các cơ quan THADS với cơ cấu tổ chức, hoạt động chặt chẽ theo quy định của Luật THADS. Các phán quyết, quyết định liên quan đến vi c thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng sẽ được thực thi, hay nói cách khác quyền lợi của các tổ chức tín dụng sẽ được thực tế hoá thông qua hoạt động thi hành án. Hiệu quả hoạt động thi hành án tín dụng ngân hàng được thể hiện bằng giá trị thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng. Vì vậy, có thể nói, hoạt động thi hành án tín dụng càng hiệu quả thì quyền lợi của các tổ chức tín dụng, ngân hàng càng được đảm bảo, từ đó góp phần giảm nợ xấu, ổn định nền kinh tế.
4.2 THA tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao chất lượng xét xử, giải quyết tranh chấp về HĐTD ngân hàng
Thi hành án dân sự là quá trình diễn ra sau quá trình xét xử và giải quyết tranh chấp. Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án và các phán quyết trọng tài thương mại là căn cứ để tiến hành các hoạt động thi hành án dân sự. Mặt khác, quá trình thi hành án là giai đoạn chứng minh bản án, phán quyết của tòa án, trọng tài thương mại chính xác và đúng pháp luật. Hơn nữa, hiệu quả của việc xét xử một phần thể hiện thông qua quá trình thi hành án, đặc biệt đối với những vụ việc khó thi hành liên quan đến tranh chấp tín dụng ngân hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ việc, chấp hành viên có thể nhận thấy những sai sót và những vấn đề chưa hợp lý về mặt thực tế của những quyết định, bản án và phán quyết. Ví dụ như một số bản án, quyết định của tòa án tuyên không rõ, có sai sót, tuyên khó thi hành dẫn đến cơ quan THADS phải yêu cầu tòa án giải thích hoặc kiến nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Cơ quan THADS có quyền yêu cầu TAND đã ra bản án, quyết định giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định để thi hành. Từ đó, tòa án có thể nhận diện những tồn tại, hạn chế trong hoạt đ ng của mình để nâng cao chất lượng xét xử, giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng.
4.3 THA tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao ý thức pháp luật, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong xã hội
Thi hành án dân sự nói chung, thi hành án tín dụng ngân hàng nói riêng là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quy định đã có hiệu lực và bảo vệ quyền lợi của các tổ chức, cá nhân. Chính vì vậy đây là một hoạt động thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, mọi cá nhân, tổ chức đều bình đẳng trước pháp luật, phải sống và làm việc theo pháp luật. Thông qua quá trình thi hành án, công dân sẽ nhận thấy rõ quyền và nghĩa vụ của mình đối với những chủ thể khác trong những mối quan hệ được pháp luật điều chỉnh, từ đó nâng cao ý thức pháp luật và trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội, đặc biệt là đối với những quan hệ tín dụng ngân hàng.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê