1.Lịch sử của Hiệp định TRIPS

Hiệp định TRIPS được thiết lập với ý nghĩa là một phần của những thoả thuận thương mại đa phương trong Vòng đàm phán U-ru-goay. Đây là lần đầu tiên các khía cạnh thương mại của IPRs được đàm phán. Kết quả của các cuộc đàm phán đó được thể hiện trong Phụ lục 1C của Hiệp định thành lập WTO, được thông qua tại Ma-ra-két ngày 15/4/1994 và có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các thành viên WTO từ ngày 1/1/1995. Hiệp định TRIPS là một trong những trụ cột quan trọng nhất của WTO và bảo hộ sở hữu trí tuệ trở thành một phần không thể tách rời trong hệ thống thương mại đa phương của WTO.

2. Hiệp định TRIPS

Hiệp định đa phương toàn diện nhất về sở hữu trí tuệ cho đến nay Trong mối tương quan với các thoả thuận quốc tế khác về IPRs, Hiệp định TRIPS được coi là toàn diện nhất xuất phát từ những đặc điểm sau đây của Hiệp định: (i) Là kết quả của sự kết hợp một số công ước quốc tế ra đời trước đó; (ii) Thiết lập các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu trong thời hạn cụ thể cho hầu hết các đối tượng sở hữu trí tuệ, đó là quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lí, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế (bao gồm giống cây trồng), thiết kế bố trí mạch tích hợp, thông tin bí mật; (iii) Chứa đựng những quy định mở; và (iv) Thiết lập những quy định thực thi IPRs. Thứ nhất, Hiệp định TRIPS là kết quả của sự kết hợp những điều ước quốc tế quan trọng nhất trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Những điều ước quốc tế này là Công ước Pa-ri, Công ước Béc-nơ, Công ước Rô-ma, Công ước Oa-sinh-tơn. Quy định của những điều ước quốc tế này có hiệu lực bắt buộc thậm chí đối với những nước chưa phê chuẩn điều ước, trừ Công ước Rô-ma có hiệu lực bắt buộc với những nước đã là thành viên của Công ước. Sự kết hợp của các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ nêu trên trong Hiệp định TRIPS được xem xét và giải thích trong khuôn khổ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO trong các vụ US-Section  Appropriations Act (US-Havana Club)268 và EC-Bananas (Article 22.6-Ecuador). Trong vụ US-Section 211 Appropriations Act (US-Havana Club), Cơ quan phúc thẩm chỉ ra rằng các thành viên có nghĩa vụ bảo hộ tên thương mại theo Điều 8 Công ước Pa-ri (1967), bởi vì quy định này đã được chuyển tải vào Điều 2 Hiệp định TRIPS. Thứ hai, Hiệp định TRIPS thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu về bảo hộ IPRs cho tất cả các thành viên WTO, bất kể trình độ phát triển. Đối với mỗi đối tượng sở hữu trí tuệ, Hiệp định TRIPS thiết lập những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu mà các thành viên phải tuân thủ. Nội dung chính của những tiêu chuẩn này là đối tượng được bảo hộ, đối tượng không được bảo hộ, quyền (bao gồm thời hạn bảo hộ tối thiểu), những trường hợp ngoại lệ của những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu. Những tiêu chuẩn này được thể hiện trong Hiệp định TRIPS dưới hai dạng. Thứ nhất, Hiệp định TRIPS đòi hỏi các thành viên WTO tuân thủ những quy định cơ bản và quan trọng của Công ước Pa-ri và Công ước Bec-nơ đã được chuyển tải vào Hiệp định TRIPS. Thứ hai, Hiệp định TRIPS quy định thêm một số nghĩa vụ cho các thành viên WTO mà những nghĩa vụ này không quy định trong Công ước Pa-ri và Công ước Bec-nơ. Các thành viên WTO có nghĩa vụ tuân thủ và áp dụng các tiêu chuẩn bảo hộ do Hiệp định TRIPS thiết lập. Đối với những vấn đề Hiệp định TRIPS đã thiết lập tiêu chuẩn tổi thiểu, các thành viên không thể áp dụng tiêu chuẩn bảo hộ ở mức thấp hơn mức do Hiệp định TRIPS thiết lập. Đồng thời, các thành viên không có nghĩa vụ đưa ra mức bảo hộ cao hơn. ‘Thực tế là Hiệp định đã thiết lập cái mà các thành viên cho là nguyên tắc và tiêu chuẩn “thích hợp” trong lĩnh vực này.’ Hiệp định TRIPS không có quy chế đặc biệt nào dành cho các DCs và LDCs, trừ các quy định từ Điều 65 đến Điều 67 về giai đoạn chuyển đổi. Những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu được thiết lập trong Hiệp định TRIPS loại bỏ sự không đối xứng mà khoản 1 Điều 2 Công ước Pa-ri tạo ra khi quy định về nguyên tắc NT. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 2 Công ước Pa-ri, trong trường hợp Công ước Pa-ri không thiết lập các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu, thì các nước thành viên của Liên minh được tự do dành sự bảo hộ cho công dân của các nước thành viên khác mà không dành cho công dân của nước mình. Sự tự do này làm phát sinh những khác biệt về mức độ bảo hộ giữa các nước thành viên của Liên minh, và đôi khi sự khác biệt được coi là không tương xứng. Thứ ba, Hiệp định TRIPS trao cho các thành viên WTO quyền tự quyết nhất định. Bên cạnh những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu, Hiệp định TRIPS dành quyền tự quyết cho các thành viên trong một số lĩnh vực, nhằm giúp các thành viên thiết lập tiêu chuẩn quốc gia về bảo hộ IPRs theo chính sách của các thành viên này trên cơ sở các ‘quy định linh hoạt’ (‘flexible provisions’). Theo giải thích của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (‘WIPO’), các ‘quy định linh hoạt’ là những cách thức khác nhau mà thông qua đó các nghĩa vụ do Hiệp định TRIPS thiết lập sẽ được chuyển tải vào pháp luật quốc gia sao cho phù hợp với lợi ích quốc gia, nhưng vẫn tương thích với các quy định và nguyên tắc của Hiệp định TRIPS. Từ ‘linh hoạt’ được nhấn mạnh trong đoạn 6 Lời nói đầu của Hiệp định TRIPS và ý nghĩa của từ này được tìm thấy trong nhiều quy định của Hiệp định TRIPS. Những ‘quy định linh hoạt’ của Hiệp định TRIPS được chia thành bốn nhóm, bao gồm: (i) Những quy định linh hoạt tại đoạn 6 Lời nói đầu về giai đoạn chuyển đổi; (ii) Những quy định linh hoạt tại khoản 1 Điều 1 về cách thức thi hành các nghĩa vụ trong Hiệp định TRIPS; (iii) Những quy định linh hoạt tại Điều 6, khoản 1 Điều 8, Điều 17, Điều 18, Điều 20, khoản 4 Điều 23, khoản 5 Điều 23, khoản 9 Điều 23, khoản 8 Điều 24, khoản 2 Điều 26, khoản 3 Điều 26, Điều 30, Điều 31, Điều 33, Điều 37, và Điều 38 về tiêu chuẩn bảo hộ; và (iv) Các quy định linh hoạt tại khoản 5 Điều 41 về vấn đề thực thi. Thứ tư, lần đầu tiên Hiệp định TRIPS thiết lập cơ chế thực thi IPRs hiệu quả. Một trong những khác biệt lớn nhất giữa Hiệp định TRIPS và các điều ước quốc tế đa phương về sở hữu trí tuệ được ban hành trước Hiệp định là: Hiệp định bao gồm các quy định chi tiết hơn nhằm đảm bảo thực thi những cam kết của Hiệp định. Những tranh chấp sở hữu trí tuệ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định TRIPS có thể được giải quyết bằng nhiều biện pháp khác nhau như dân sự, hành chính, biện pháp tạm thời, biện pháp kiểm soát biên giới và biện pháp hình sự. Những tranh chấp phát sinh thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định TRIPS được giải quyết theo thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO. Tức là, về nguyên tắc, các nguyên tắc của WTO được quy định trong GATT cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được áp dụng. Với những đổi mới nêu trên, cho đến nay, Hiệp định TRIPS được đánh giá là thoả thuận đa phương về sở hữu trí tuệ toàn diện nhất. Hiệp định là sự củng cố có ý nghĩa quan trọng nhất đối với những tiêu chuẩn toàn cầu trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

3.Mục tiêu cơ bản của hiệp định TRIPS

Mục tiêu cơ bản nhất là thúc đẩy thương mại quốc tế Phù hợp với mục tiêu của WTO, mục tiêu của Hiệp định TRIPS là thúc đẩy thương mại quốc tế bằng cách bảo hộ IPRs, đồng thời ngăn chặn các thành viên sử dụng IPRs như những rào cản trong thương mại quốc tế. Theo Lời nói đầu của Hiệp định TRIPS: … Một trong những hiểu lầm phổ biến nhất về Hiệp định TRIPS là mục tiêu chính của Hiệp định là đề cao bảo hộ IPRs. Tuy nhiên, điều này không đúng. Mục tiêu chính - nếu không phải là mục tiêu duy nhất - của Hiệp định TRIPS, cũng như mục tiêu của toàn bộ Hiệp định thành lập WTO, là thúc đẩy thương mại tự do. Như đã nhấn mạnh trong Lời nói đầu của Hiệp định TRIPS, mục tiêu cơ bản đầu tiên của Hiệp định là: ‘Giảm sự bóp méo và rào cản trong thương mại quốc tế… và bảo đảm rằng các biện pháp và thủ tục thực thi IPRs không tự chúng tạo thành những rào cản cho thương mại hợp pháp’. Mục tiêu này nên được đặt trong mối quan hệ với Điều 7 và Điều 8 của Hiệp định TRIPS. Theo đó, bảo hộ và thực thi IPRs phải góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, chuyển giao và phổ biến công nghệ, đem lại lợi ích chung cho người tạo ra và người sử dụng kiến thức công nghệ, đem lại lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế, tạo ra sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ (Điều 7). Các thành viên WTO được phép áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khoẻ cộng đồng cũng như những lợi ích công cộng khác, và được phép ngăn chặn lạm dụng IPRs hoặc những hành vi cản trở thương mại bất hợp lí hoặc ảnh hưởng xấu đến chuyển giao công nghệ quốc tế (Điều 8). Ngoài Lời nói đầu, nhiều quy định của Hiệp định TRIPS cũng thể hiện mục tiêu thúc đẩy thương mại tự do. Ví dụ: Hiệp định TRIPS yêu cầu các thành viên WTO áp dụng các biện pháp thực thi ‘sao cho tránh tạo ra những rào cản cho thương mại hợp pháp’ theo quy định tại Điều 41. Điều 48, khoản 3 Điều 50, khoản 7 Điều 50 và Điều 56 là những ví dụ khác về các quy định nhằm ngăn chặn và xử lí việc lạm dụng các biện pháp thực thi của chủ thể nắm giữ quyền (hoặc người được cho là chủ thể nắm giữ quyền) có thể cản trở thương mại quốc tế hợp pháp.

4.Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT)

Nguyên tắc NT về sở hữu trí tuệ được quy định lần đầu tiên trong Công ước Pa-ri (Điều 2). Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc này theo Công ước Pa-ri làm phát sinh những khác biệt về mức độ bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp giữa các nước thành viên của Liên minh và hệ quả là tạo ra những rào cản cho xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ mang đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ. Do đó, các nước thành viên ở Vòng đàm phán U-ru-goay đã nhất trí thiết lập một công thức mới cho nguyên tắc NT tại Điều 3 Hiệp định TRIPS. Nguyên tắc NT trong Hiệp định TRIPS được Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) xem xét và giải thích kỹ lưỡng. Nguyên tắc này đã được làm rõ trong một số vụ sau đây: European Communities-Protection of Trademark and Geographical Indications for Agricultural Products and Foodstuffs do Hoa Kỳ khởi kiện; European Communities-Protection of Trademark and Geographical Indications for Agricultural Products and Foodstuffs do Úc khởi kiện; Indonesia-Autos; và US-Section 211 Appropriations Act (US-Havana Club). Theo đó, không còn tồn tại sự bảo hộ mà một thành viên dành cho công dân của các thành viên khác không giống với sự bảo hộ dành cho công dân của mình (như quy định trong Công ước Pa-ri); Hiệp định TRIPS đòi hỏi mỗi thành viên WTO dành sự bảo hộ cho công dân các thành viên khác ‘không kém thuận lợi hơn’ sự bảo hộ dành cho công dân của mình. Nói cách khác, bất kể mức độ bảo hộ nào một thành viên dành cho công dân của mình, thành viên này buộc phải áp dụng tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu do Hiệp định TRIPS thiết lập cho công dân của các thành viên khác. Nếu mức độ bảo hộ của thành viên đó thấp hơn hoặc ngang bằng với mức độ bảo hộ do Hiệp định TRIPS thiết lập, thì thành viên đó có thể giới hạn mức độ bảo hộ cho công dân của các thành viên theo tiêu chuẩn bảo hộ của Hiệp định TRIPS. Nếu mức độ bảo hộ của thành viên đó cao hơn mức độ bảo hộ do Hiệp định TRIPS thiết lập, thì thành viên đó phải dành mức độ bảo hộ cao tương tự cho công dân của các thành viên khác.\

5.Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN)

Nguyên tắc MFN được quy định tại Điều 4 Hiệp định TRIPS. Nguyên tắc này không được đề cập trong những điều ước về sở hữu trí tuệ được thiết lập trước Hiệp định TRIPS nhưng được quy định trong các hiệp định khác của WTO, như GATT (Điều I) và GATS (Điều II). Trong khi nguyên tắc NT cấm một thành viên phân biệt đối xử giữa công dân của mình và công dân của các thành viên khác, thì nguyên tắc MFN cấm một thành viên phân biệt đối xử giữa công dân của hai thành viên khác. Đối với bảo hộ IPRs, Điều 4 Hiệp định TRIPS đòi hòi các thành viên của WTO dành sự bảo hộ ‘ngay lập tức và vô điều kiện’, ‘ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền hoặc miễn trừ’ cho ‘công dân của bất kì nước nào khác’ (bao gồm cả công dân của nước không phải là thành viên của WTO) như sự bảo hộ dành cho công dân của mình. Nguyên tắc MFN được làm rõ trong một số vụ sau đây: European CommunitiesProtection of Trademark and Geographical Indications for Agricultural Products and Foodstuffs (khiếu kiện của Hoa Kỳ); và US-Section 211 Appropriations Act (US-Havana Club). 3. Nguyên tắc minh bạch Nguyên tắc minh bạch được biết đến lần đầu tiên trong Điều X GATT 1947. Trong Hiệp định TRIPS, nguyên tắc này được quy định tại Điều 63. Điều 63 yêu cầu các thành viên của WTO công bố các nguyên tắc liên quan đến IPRs. Theo khoản 1 Điều 63, các nguyên tắc liên quan đến IPRs bao gồm các luật, quy định, quyết định xét xử cuối cùng, quyết định hành chính, thoả thuận giữa chính phủ của thành viên hoặc cơ quan chính phủ với chính phủ hoặc cơ quan chính phủ của thành viên khác. Nghĩa vụ công bố này được thực hiện thông qua ba phương thức, đó là: (i) Công bố chính thức (khoản 1 Điều 63); (ii) Thông báo cho Hội đồng TRIPS (khoản 2 Điều 63); và (iii) Yêu cầu thành viên khác cung cấp thông tin và cho phép tiếp cận thông tin (khoản 3 Điều 63). Mục đích của nguyên tắc minh bạch là: ‘Giúp cho chính phủ và các chủ thể khác được thông báo về khả năng thay đổi của pháp luật sở hữu trí tuệ của thành viên nhằm góp phần đảm bảo môi trường pháp lí ổn định và có thể dự đoán được’. Cần lưu ý rằng Hiệp định TRIPS cũng quy định một số ngoại lệ đối với ba nguyên tắc nêu trên. Ngoại lệ đối với nguyên tắc NT được quy định tại khoản 2 Điều 3; ngoại lệ đối với nguyên tắc MFN được quy định tại Điều 4(a), (b), (c), (d); ngoại lệ đối với nguyên tắc minh bạch được quy định tại khoản 4 Điều 63. 2. Nội dung chính của Hiệp định TRIPS Bên cạnh những quy định chung và những nguyên tắc cơ bản (quy định tại Phần I Hiệp định TRIPS), Hiệp định TRIPS bao gồm những nội dung chính sau đây: (A) Các tiêu chuẩn liên quan đến khả năng đạt được, phạm vi và sử dụng IPRs đối với bảy đối tượng sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lí, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế (bao gồm giống cây trồng), thiết kế bố trí mạch tích hợp và thông tin bí mật; (B) Hiệp định TRIPS bao gồm những quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến IPRs; (C) Hiệp định TRIPS quy định chi tiết về thực thi IPRs; (D) Quy định về giải quyết tranh chấp liên quan đến sở hữu trí tuệ theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)