1. Khi ly hôn có phải trả phần nợ riêng không ?

Kính chào luật sư ạ. Em ở thành phố Huế, hôm nay em gửi mail này xin nhờ luật sư tư vấn về trường hợp của mình. Em lấy chồng từ tháng 01/2014, tuy nhiên chồng em thường xuyên cờ bạc rượu chè, sau nhiều lần khuyên răn mà vẫn không thay đồi nên em muốn ly hôn, nhưng vẫn còn một số điểm chưa rõ, xin nhờ luật sư tư vấn giúp ạ.
Về con chung, chúng em chưa có. Về tài sản chung thì cuối năm 2015 chúng em có mua căn hộ chung cư mang tên chung của cả 2 vợ chồng. Hiện giờ thỏa thuận sau khi ly hôn căn hộ này sẽ chuyển quyền sở hữu sang cho em. Tuy nhiên, căn hộ này hiện tại chưa hoàn thành nên chưa có giấy tờ, chưa sang tên. Hiện tại em chỉ có hợp đồng mua nhà bản photo công chứng. Trường hợp này sẽ được giải quyết như thế nào ạ ? Về nợ chung, chúng em có vay ngân hàng gói 30000 tỷ của nhà nước để mua căn hộ trên, thời hạn vay là 15 năm từ 2016 đến 2031 trả góp hàng tháng, cũng thỏa thuận sau khi ly hôn thì em sẽ là người có trách nhiệm trả nợ có đến khi hoàn thành. Về nợ riêng: chúng em thỏa thuận nợ phát sinh trước và cả trong thời gian hôn nhân của riêng người nào thì người đó tự chịu trách nhiệm chi trả.
Tuy nhiên, hiện nay chồng em đã đi khỏi đây, em thì chưa hoàn thành hồ sơ để gửi lên tòa án được, những người cho chồng em vay nợ đến tìm em để dọa dẫm đòi nợ và đến cơ quan làm việc quấy phá làm mất danh dự của em nữa. Em phải xử lý thế nào ạ ? Và trường hợp nếu như chồng em không chịu thỏa thuận, không chịu thuận tình ly hôn thì em phải làm đơn phương, em có thể gửi hồ sơ đến cơ quan nào ạ ? Hiện tại, hộ khẩu của em ở Quảng Trị, em tạm trú tại tp Huế vì em công tác tại đây. Hộ khẩu chồng em ở Nam Định, giấy đăng ký kết hôn ở quê chồng. Kính mong luật sư tư vấn giúp và hồi âm cho em sớm để em có thể xử lý để thoát khỏi tình trạng hiện nay ạ ?
Hiện tại em không thể tập trung làm việc và sống tốt được vì lúc nào cũng lo sợ bị quấy phá. Em cảm ơn nhiều ạ. Chờ hồi âm của luật sư.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Về vấn đề của bạn chúng tôi chia làm hai trường hợp:

1. Trường hợp thứ nhất là hai vợ chồng thuận tình ly hôn.

Như bạn trình bày: Nếu ở trường hợp thuận tình ly hôn thì bạn đang gặp khó khăn ở việc chia khối tài sản chung là căn hộ chung cư mang tên chung của hai vợ chồng. Hiện tại bạn chỉ có bản hợp đồng mua nhà bản photo công chứng. Cả hai đã thỏa thuận sau khi ly hôn, căn hộ này sẽ chuyển quyền sở hữu cho bạn.

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thì ưu tiên sự thỏa thuận phận chia tài sản giữa hai vợ chồng. Nếu hai vợ chồng mà không tự phân chia được thì tòa án mới phân chia.Nhưng với điều kiện nội dung thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chống không bị tòa án tuyên vô hiệu. Bị vô hiệu trong các trường hợp như vi phạm các điều cấm của pháp luật, xâm hại đến lợi ích của bên thứ ba và nhằm trốn tránh các nghĩa vụ khác.

Như vậy ở trường hợp này cả hai vợ chồng đã thỏa thuận được với nhau về sẽ chuyển quyền sở hữu căn hộ cho bạn. Nhưng căn hộ này chưa hoàn thành, không có giấy tờ, chưa sang tên, đang trong thời gian trả góp ,cả hai vợ chồng thỏa thuận bạn sẽ trả hết phần còn lại của căn hộ.Hướng xử lý là bạn và chồng bạn nên lập một biên bản thỏa thuận về việc xác định quyền sở hữu đối với căn hộ. Trong nội dung bản thỏa thuận phải ghi rõ đia chỉ căn hộ, đặc điểm căn hộ,tình trạng căn hộ, giá trị căn hộ, quyền và nghĩa vụ của các bên đối với căn hộ sau khi bản thỏa thuận có hiệu lực.Sau khi lập biên bản và có chữ kỹ của chồng bạn, thì bạn nên đưa đến phòng công chứng để công chứng viên sẽ công chứng biên bản thỏa thuận này. Đây được xem như một chứng cứ hợp pháp để tòa xử lý khi có tranh chấp.

Về vấn đề nợ riêng. Vợ chồng cũng đã thỏa thuận thuận nợ phát sinh trước và cả trong thời gian hôn nhân của riêng người nào thì người đó tự chịu trách nhiệm chi trả. Nhưng hiện tại những chủ nợ lại không tìm được chồng bạn để đòi nợ. Mà tìm đến bạn để đòi, làm ảnh hưởng đến công việc và cuộc sông riêng của bạn. Để không bị quấy rối thì trước hết bạn nên báo công an để có được sự hỗ trợ trước mắt, để ổn định cuộc sống của bạn. Bằng việc ghi âm, ghi hình lại những hành vi làm ảnh hưởng đến tinh thần, danh dự nhân phẩm của bạn. Để công an có cơ sở xử lý. Còn lâu dài thì bạn nên sớm hoàn thành các thủ tục và hồ sơ để đưa vụ án ra tòa để đảm bảo những quyền lợi cho bạn.

2. Trường hợp thứ hai là ly hôn theo yêu cầu của một bên.( Vợ hoặc chồng không nhất trí việc ly hôn)

Việc tòa án sẽ thụ lý hồ sơ của bạn được pháp luật quy định như sau:

Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.
2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;
Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;”

Như vậy, nếu bạn là người nộp đơn xin ly hôn thì bạn sẽ là nguyên đơn còn chồng bạn sẽ là bị đơn. Sau khi tòa hòa giải không thành thì bạn có thể nộp một đơn xin ly hôn một trong hai nơi. Nếu như hai vợ chồng bạn có thể thỏa thuận được việc yêu cầu ly hôn ở nơi cư trú làm việc của bạn thì Toàn án nhân dân huyện ở Huế. Còn nếu không thỏa thuận được thì bạn có thể nộp đơn tại tòa án nhân dân huyện , nơi chồng bạn đăng ký thường trú thuộc tỉnh Nam Định nếu không xác định được nơi làm viêc của chồng bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về nghĩa vụ trả nợ, gọi: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

2. Chia khoản tiền nợ sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư, tôi có câu hỏi cần được tư vấn như sau: Hai vợ chồng tôi có căn nhà chung gọi tắt là A, nhưng để mua được căn nhà này chúng tôi đã vay ngân hàng 2 tỷ.

Nhưng do giá trị của căn nhà A theo ngân hàng định giá chỉ có 1,8 tỷ nên chồng tôi có thế chấp thêm căn nhà B (căn nhà B là của chồng tôi cho con riêng của chồng nhưng do bé này chưa đủ tuổi vị thành niên nên chồng tôi quản lý, việc cho này xảy ra trước khi lấy tôi). Nói một cách ngắn gọn để mua được căn nhà A, ngân hàng cho chúng tôi vay 1,3 tỉ (ngân hàng luôn cho vay dưới mức định giá) từ căn nhà A và 700 triệu từ căn nhà B. Như vậy khi ly hôn tôi cũng phải chịu khoản nợ chung là 2 tỷ hay chỉ chịu khoản nợ chung 1,3 tỷ của căn nhà A có tôi đứng tên?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: T.K

Khi ly hôn có phải trả phần nợ riêng không ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:
Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Căn cứ Điều 37 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng như sau:
Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.
Như vậy, trước tiên ngôi nhà A thuộc tài sản chung của vợ chồng bạn (hình thành trong thời kỳ hôn nhân). Về khoản tiền vay ngân hàng bao gồm 1,3 tỷ (ngân hàng cho vay thế chấp ngôi nhà A) và 700 triệu (thế chấp căn nhà B - tài sản của con riêng chồng bạn do chồng bạn quản lý) để vợ chồng bạn mua ngôi nhà A đều thuộc tài sản chung của vợ chồng bạn (khoản tiền vay ngân hàng), vợ chồng bạn cùng có nghĩa vụ trả nợ bởi vì:

- Việc thế chấp ngôi nhà A - tài sản chung để vay tiền thuộc nghĩa vụ chung của vợ chồng (phát sinh từ việc định đoạt ngôi nhà A)

- Việc thế chấp tài sản là ngôi nhà B không thuộc sở hữu chung của vợ chồng nhưng để phát triển khối tài sản chung (vay tiền để mua ngôi nhà A - tài sản chung). Thế chấp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể như sau:

Điều 317. Thế chấp tài sản
1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).

- Hơn nữa, giao dịch vay tiền ngân hàng là do vợ chồng bạn xác lập.

Chính vì vậy, vợ chồng bạn đều có nghĩa vụ trả nợ 2 tỷ đồng vay ngân hàng.

Khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng (bao gồm cả nghĩa vụ trả nợ 2 tỷ đồng) được giải quyết theo thỏa thuận của các bên; trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, cụ thể Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng sau ly hôn được quy định tại điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014.

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

3. Chồng có được phép trực tiếp nuôi con dưới 1 tuổi sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư: năm nay cháu 27 tuổi. Vợ chồng cháu có xảy ra cãi nhau, vợ cháu bỏ đi 4 ngày nay không về, vợ chồng cháu có sinh đứa con năm nay được hơn 1 tuổi. Nay cháu muốn ly hôn với vợ cháu, vợ cháu bảo không nuôi con. Vậy cháu xin hỏi cháu có được quyền nuôi con không?.Nếu vợ cháu không về ly hôn thì cháu có thể làm đơn vắng mặt hay không ?
Cháu xin cảm ơn !

Chia khoản tiền nợ sau khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất về quyền nuôi con sau khi ly hôn

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Theo đó về nguyên tắc thì sau khi ly hôn con bạn mới một tuổi thì sẽ do người vợ trực tiếp nuôi dưỡng , nếu người vợ không nuôi thì anh có quyền nuôi.

Thứ hai về việc ly hôn vắng mặt

Sau khi tòa án thụ lý đơn xin ly hôn đơn phương của bạn thì dù vợ bạn vắng mặt không có lý do thì vụ án ly hôn của bạn vẫn được giải quyết. Theo trình tự giải quyết vụ án dân sự thì trước hết tòa án sẽ tổ chức hòa giải. Theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì nếu bị đơn đã được triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc hòa giải không tiến hành được. Sau khi hòa giải không thành, tòa án sẽ quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Khi đưa vụ án ra xét xử, sau khi triệu tập lần thứ nhất mà vợ bạn vắng mặt thì phiên tòa sẽ tạm hoãn. Nếu tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vợ bạn vẫn cố tình vắng mặt thì tòa án sẽ xét xử vắng mặt.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Vợ bỏ nhà đi, chồng có quyền nuôi con khi ly hôn không ?

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?

4. Ly hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân ?

Chào luật sư Minh Khuê, xin hỏi: Tôi muốn hỏi thêm là nếu tôi gửi đơn qua đường bưu điện thì tôi phải làm như thế nào và gửi như vậy thì bao lâu tòa mới thụ lý ? Cho tôi hỏi, tôi đã nộp đơn đơn phương ly hôn toà đã thụ lý và đến ngày hòa giải thì chồng tôi không lên nên tòa đã bảo tôi rút đơn về cho đến nay được hơn 3 tháng. Giờ tôi muốn nộp lại thì có được không ạ?
Cám ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Theo quy định này, pháp luật cho phép vợ hoặc chồng đơn phương ly hôn. Tuy nhiên, nếu như thuận tình ly hôn thì Tòa án xem xét sự thuận tình, tự nguyện của các bên, còn đơn phương ly hôn thì Tòa án lại xem xét chủ yếu căn cứ mà bên đơn phương ly hôn đưa ra. Điều luật quy định rằng: "hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được".

Hôn nhân của vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

Như vậy, khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án bạn phải chứng minh về việc cuộc hôn nhân của vợ chồng bạn không hạnh phúc và không thể kéo dài được nữa. Căn cứ vào đó Tòa án sẽ giải quyết ly hôn cho bạn.

Chào luật sư Minh Khuê, Tư vấn giúp em, khi em ly hôn với chồng ( chồng ngoại tình ), chúng em không có con, thì em có được đền bù gì không ? Em có nghe thông tin về bồi thường tuổi thanh xuân có đúng không ạ ? Cảm ơn luật sư.

=> Ly hôn hay kết hôn là sự tự nguyện giữa hai bên vợ chồng nên không có bồi thường thiệt hại về tuổi thanh xuân.

Luật sư xin cho em hỏi một việc như sau: Em muốn ly hôn thì sẽ cần những thủ tục gì nếu giấy đăng ký kết hôn của em sai số chứng minh thư của em. Trong giấy đó có chữ ký xác nhận của em giờ em nên làm những thủ tục gì ạ? Chân thành cảm ơn luật sư.

a. Hồ sơ ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn

- Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

- Bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng

- Bảo sao giấy khai sinh của con (nếu có)

- Các giấy tờ chứng minh tài sản chung (nếu có).

Bạn có thể tham khảo cách viết đơn xin ly hôn tại đây

b. Nơi nộp hồ sơ :

Hồ sơ xin ly hôn sẽ nộp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết

Về thẩm quyền theo cấp: Tòa án nhân dân có thẩm quyền ở đây là Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

Về thẩm quyền theo lãnh thổ: Quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

"Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;"

Theo quy định của Điều 40 Bộ luật dân sự năm 2015, thì:

Điều 40. Nơi cư trú của cá nhân
1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.
2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống.
3. Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.

Như vậy, Hồ sơ xin ly hôn sẽ được nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu không biết nơi cư trú, làm việc thì sẽ là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng).

Nhận đơn và thụ lý

Điều 195. Thụ lý vụ án

1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

2. Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

3. Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

4. Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

Chào luật sư Minh Khuê. Mình và chồng lấy nhau hiện tại có một con trai. Chồng mình sống không tôn trọng mình và gia đình mình chồng mình làm đơn ly hôn. Trong đơn viết sẽ nuôi con không cần chu cấp. Minh đã ký đơn. Cho mình hỏi nếu mình nộp đơn mình có giành quyền nuôi con không ? Mình phải làm những gì để mình được nuôi con? Trước khi mình nghỉ sinh mình được hưởng một số tiền bảo hiểm và chồng mình đã lấy hết của mình. Mình có lấy lại được số tiền đó không ? Cần những giấy tờ gì để lấy lại số tiền đó. Mình xin chân thành cảm ơn.

Về vấn đề quyền nuôi con sau khi ly hôn Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo quy định trên thì vợ chồng bạn có quyền thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Con từ đủ 03 đến dưới 7 tòa án xem xét về việc ai có điều kiện tốt hơn là người trực tiếp nuôi con. Con dưới 36 tháng tuổi sẽ do mẹ nuôi trừ trường hợp theo quy định của pháp luật trên.

Về vấn đề giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Chào luật sư, em hỏi khi vợ em đưa đơn ly hôn đơn phương ra tòa mà lần đầu tiên cả 2 vợ chồng nhận được giấy triệu tập muộn quá nên cả 2 đều vắng mặt không lý do thì có ảnh hưởng gì không ạ ? Trong thời gian tới tòa án sẽ tiếp tục giải quyết như nào ? Em chân thành cảm ơn .

Sự có mặt của nguyên đơn tại phiên tòa được quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

"Điều 227. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Như vậy, trong trường hợp Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Như vậy, trường hợp phiên tòa xử ly hôn vắng mặt cả hai vợ chồng bạn thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa. Và Tòa án phải thông báo cho vợ chồng bạn về việc hoãn phiên tòa.

Xin chào luật sư Minh Khuê! Anh cho em hỏi vấn đề này được không vậy. Em có 1 người bạn. Đã ly hôn chồng. Nhưng tình cờ em thấy giấy đăng ký hôn nhưng đã ly hôn Vậy người này đã ly hôn chưa. Nếu ly hôn rồi thì giấy đó xử lý như thế nào. Xin luật sư cho em biết. Xin cám ơn ạ.

Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 57. Thời điểm chấm dứt hôn nhân và trách nhiệm gửi bản án, quyết định ly hôn

1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Tòa án đã giải quyết ly hôn phải gửi bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên ly hôn; cá nhân, cơ quan, tổ chức khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các luật khác có liên quan."

Như vậy, căn cứ cho thấy rằng quan hệ hôn nhân chấm dứt đó là bản án, quyết định ly hôn của Tòa án. Tòa án đã giải quyết ly hôn phải gửi bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên ly hôn; cá nhân, cơ quan, tổ chức khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các luật khác có liên quan.

Thưa luật sư, bọn em cưới nhau và chung sống với nhau được 1 năm 6 tháng, mâu thuẫn liên tiếp xảy ra, vợ em bỏ về nhà ngoại khi con chưa được 5 tháng tuổi. Mà bây giờ con em được 2 năm 6 tháng rồi, vợ em vẫn không có ý định hòa giải. Hiện nay em muốn có cách làm đơn ly hôn đơn phương ? Ngoài ra em làm giấy khai sinh của con e vợ e cầm toàn bộ giấy tờ chỉ có giấy đăng ký kết hôn bản gốc thôi ạ. Về quyền nuôi con nếu quyền nuôi con về vợ em thì em có quyền không chu cấp được không, nếu em có quyền nuôi con thì em không cần vợ chu cấp có được không thưa luật sư ? Chân thành cảm ơn luật sư.

Nghĩa vụ cấp dưỡng là bắt buộc, đây là trách nhiệm của người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

Căn cứ Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Theo quy định của pháp luật thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Như vậy, trường hợp người trực tiếp nuôi con là bạn thì vợ bạn phải có nghĩa vụ cấp dường và ngược lại trường hợp vợ bạn trực tiếp nuôi con sau ly hôn thì bạn sẽ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Thưa luật sư, luật sư có thể giải đáp giúp tôi thắc mắc. Cụ thể, bố ,mẹ tôi ly hôn từ năm 1986 và có với nhau 1 con là tôi. Hiện bố tôi sống ở đất nhà do ông, bà nội để lại. Mảnh đất này chưa từng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bây giờ bố tôi muốn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bố tôi và tôi có được không (tôi và bố tôi ở hai sổ hộ khẩu khác nhau do tôi ở với mẹ tôi từ khi bố mẹ tôi ly hôn)? Cảm ơn luật sư.

Căn cứ Điều 100 Luật đất đai 2013 quy định:

"Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Như vậy, trường hợp này bạn và bố bạn sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013 nêu trên.

Thưa luật sư, vợ chồng tôi kết hôn được khoảng 16 năm thì ly hôn và có với nhau 2 mặt con. Lúc kết hôn không đăng kí kết hôn nên khi ly hôn thì cũng chỉ làm giấy thuận tình ly hôn chứ không ra tòa.Đến nay cũng đã hơn 4 năm. Trong giấy thuận tình ly hôn thì tài sản chia đôi với phần nhiều hơn thuộc về tôi do tôi nhận nuôi 2 đứa con. Nhưng trên thực tế chỉ có 2 phần bằng nhau về tổng giá trị. Tôi có nói chia thành 4 phần vì còn có con trong độ tuổi ăn học nhưng chồng tôi lúc đó nói con chưa đủ 18 tuổi nên không chia. Một số tài sản còn đứng tên cả 2 vợ chồng vẫn chưa thực hiện chuyển đổi hay tách hẳn. Ngày 15/6/2014 tôi có trả nợ ngân hàng 110 triệu đồng trước đó tôi thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay nhằm phục vụ cho mục đích mua đất canh tác thì chồng tôi nói nêu tôi trả thì tôi kí giấy cho ông đáo hạn để vay tiếp 1 năm. Do lúc đó còn 1 số vấn đề phụ thuộc nên tôi đồng ý kí giấy cho ông vay ( sổ đứng tên 2 vơ chồng nhưng là phần tài snr thuộc sở hữu của tôi). Một thời gian sau chồng tôi nói cần mượn một số tiền. Tôi đồng ý cho mượn. Vào ngày 14/12/2014 tại nhà tôi chồng tôi tự viết tay một tờ giấy với nội dung mượn tôi 120 triệu với lãi suất thỏa thuận. Sau 2 tháng sẽ thanh toán cả gốc lẫn lãi. Ngày 15/6/2015 ông thanh toán cho tôi 60 triệu đồng. Và nói tới sau khi thu mùa sẽ trả. Qua mùa tôi có hỏi thì khất lần mãi. Tôi hỏi thì có khi còn xúc phạm tới tôi. Chúng tôi có lời qua tiếng lại. Dạo này tôi đòi cũng không trả. Đến ngày 16/6/2016 ông có nói tôi ra ký giấy tờ cho đáo hạn vay thêm 1 năm. Tôi không đồng ý vì tôi muốn lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng mà chồng tôi không đồng ý và đe dọa mắng chửi. Nay tôi muốn luật sư tư vấn giùm tôi, nếu tôi kiện thì phần thắng là bao nhiêu và tôi phải làm thế nào thì tôi mới lấy lại được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( giờ đang ở trong ngân hàng ). Luật sư có thể tư vấn giùm tôi quy trình các thủ tục. Chân thành cảm ơn luật sư.

Vụ việc của bạn được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự vì hai bên đã ly hôn. Bạn có thể đưa ra tòa án để được giải quyết khi chồng bạn không hợp tác trả lại tài sản. Trường hợp chồng cũ của bạn không trả lại tài sản bạn có thể kiện lên Tòa án đòi lại tài sản.

Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ gửi tiền, hóa đơn gửi…)

- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Mọi vướng mắc xin vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?

5. Không có giấy chứng nhận kết hôn thì có phải ra tòa khi ly hôn ?

Thưa Luật sư, năm 2006 tôi có làm giấy đăng ký kết hôn, sau đó 2 vợ chồng tôi không lấy giấy đăng ký kết hôn. Khi sinh con nó cũng mang họ tôi, chồng tôi lên phường hỏi thì họ bảo giấy kết hôn sau 6 tháng không lấy là sẽ bị hủy.

Hiện tại 2 vợ chồng tôi đã ly dị mà không ra tòa vì nghĩ không có giấy chứng nhận kết hôn thì không cần phải ra tòa. Giờ tôi muốn hỏi là như vậy có đúng không, sau này tôi có thể lấy chồng khác không ?

Tôi xin cảm ơn Luật sư !

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về ly hôn, gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Thủ tục đăng ký kết hôn được quy định cụ thể tại Điều 18 Luật Hộ tịch năm 2014 như sau:

"Điều 18. Thủ tục đăng ký kết hôn

1. Hai bên nam, nữ nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định cho cơ quan đăng ký hộ tịch và cùng có mặt khi đăng ký kết hôn.

2. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn; công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Trường hợp cần xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ thì thời hạn giải quyết không quá 05 ngày làm việc."

Như vậy, sau khi công chức tư pháp hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, hai vợ chồng quý khách ký vào Giấy chứng nhận kết hôn thì sự kiện kết hôn của quý khách đã được thừa nhận. Sau đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân là đại diện cơ quan nhà nước cấp xã sẽ tiến hành trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên. Vì quý khách chưa nêu rõ việc đăng ký kết hôn của mình đã tiến hành đến đâu? Vợ, chồng quý khách đã cùng ký vào Sổ hộ tịch hay chưa? thì chúng tôi chưa thể kết luận hôn nhân của quý khách đã được thừa nhận hợp pháp hay chưa. Nếu quý khách đã thực hiện đúng quy trình nêu tại Điều 18 trên, biểu hiện cuối cùng là hai vợ chồng quý khách cùng ký vào Sổ hộ tịch thì hôn nhân của quý khách đã được thừa nhận hợp pháp. Công chức hộ tịch nêu lý do "giấy kết hôn sau 6 tháng không lấy là sẽ bị hủy" là không có căn cứ pháp luật. Mời quý khách quay lại bộ phận một cửa xác nhận thông tin trên.

Nếu vợ chồng quý khách chưa thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo đúng quy định thì quan hệ giữa quý khách và chồng chỉ là quan hệ nam nữ, không có sự ràng buộc pháp lý. Khi đó, quý khách có thể tự do đăng ký kết hôn với người khác.

Nhưng nếu quý khách đã được ghi nhận kết hôn hợp pháp thì quý khách phải tiến hành thủ tục ly hôn trước khi muốn xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp với người khác.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Làm thể nào để mở trung tâm cai nghiện ma túy ? Đăng hình ảnh sử dụng ma túy có phạm luật ?