1.Phòng vệ chính đáng vượt mức có bị khởi tố hình sự ?
>> Xem thêm: Có quan hệ tình cảm với bạn gái 16 tuổi 3 tháng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?
Chào luật sư, em toi có phòng vệ chính đáng quá mức giới hạn nay bị khởi tố vụ án hình sự do người bị hại yêu câu liệu có đúng không, vì trong lúc đấy bắt buộc em tôi phải phòng vệ nếu không sẽ mất tính mạng
Người gửi : yentranst@gmail.com
Luật sư trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Luật Minh Khuê. Câu hỏi của bạn được chúng tôi biên tập và trả lời như sau ?
Căn cứ theo khoản 1 điều 155 bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định :
Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
Điều 136. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
3. Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.
Như vây, Căn cứ theo khoản 1 điều 136 và khoản 1 điều 155 bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định thì chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của ngừoi bị hại "Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm."
2. Người khởi tố rút yêu cầu thì có không khởi tố nữa không ?
>> Xem thêm: Quan hệ với người dưới 16 tuổi có bị đi tù bao nhiêu lâu ? Có tố cáo được không ?
Thưa luật sư, anh Trần văn X bị người bị hại yêu cầu khởi tố tội vu khống người khác vì lúc đấy có qua bực tức nên đã yêu cầu khởi tố . Vậy cho tôi hỏi anh X không phải truy cứu trách nhiệm hình sự ?
Luật sư trả lời :
Câu hỏi của bạn được chúng tôi biên tập và trả lời như sau :
Căn cứ vào khoản 2 điều 155 bộ luật tố tung hình sự 2015 và khoản 1 điều 156 bộ luật hình sự 2015 quy định như sau :
Điều 156. Tội vu khống
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với 02 người trở lên;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;
đ) Đối với người đang thi hành công vụ;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;
h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Vì động cơ đê hèn;
b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
c) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
3. Người bị hại yêu cầu rút đơn khởi tố thì có được yêu cầu lại không ?
>> Xem thêm: Quan hệ với nữ khi cả hai 16 tuổi có phạm tội ? Quan hệ khi Em chưa 18 ?
Thưa luật sư, tôi là người bị hại trong một vụ cưỡng dâm tôi có làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi tố, nay tôi muốn rút đơn thì có vì hai bên đã thỏa thuận được nhưng tôi sợ bên kia lật lọng thì cho tôi hỏi nếu rút đơn rồi thì có được yêu cầu lại không ?
Luật sư trả lời :
Căn cứ theo khoản 3 điều 155 bộ luật tố tụng dân sự và theo khoản 1 điều 143 bộ luậthình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định :
Điều 143. Tội cưỡng dâm
1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Nhiều người cưỡng dâm một người;
b) Cưỡng dâm 02 lần trở lên;
c) Cưỡng dâm 02 người trở lên;
d) Có tính chất loạn luân;
đ) Làm nạn nhân có thai;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;
h) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
c) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.
4. Cưỡng dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
4. Vướng mắc khi tiến hành khởi tố, giải quyết vụ án theo yêu cầu của bị hại
>> Xem thêm: Hình phạt tội giao cấu với trẻ em theo quy định mới luật hình sự
Thứ nhất, bị hại không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án
Thực tiễn giải quyết vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, các vụ án về tội: “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác” luôn chiếm tỷ lệ cao trong các tội chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại. Đối với vụ án cố ý gây thương tích thì yêu cầu bắt buộc đối với cơ quan điều tra phải xác định được tỷ lệ thương tích của bị hại, bởi chỉ khi xác định được phần trăm tỉ lệ thương tích của bị hại thì cơ quan điều tra mới có căn cứ để khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng không thể xử lý được vì bị hại không hợp tác, từ chối giám định để xác định tỷ lệ thương tích gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án.
Điểm b khoản 2 Điều 127 BLTTHS năm 2015 đã quy định về biện pháp dẫn giải có thể áp dụng đối với bị hại không hợp tác, từ chối giám định: “Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan”. Đây là biện pháp cưỡng chế nhằm khắc phục trường hợp bị hại từ chối việc giám định gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Tuy nhiên, quá trình thực hiện quy định này có vướng mắc đó là: Thực hiện dẫn giải bị hại đi giám định nhưng bị hại vẫn cương quyết từ chối việc giám định, tỏ thái độ bất hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng với lý do có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, vì vậy việc giám định không thể tiến hành được.
Thứ hai, giới hạn giải quyết vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại
Trường hợp vụ án có nhiều bị hại nhưng chỉ một hoặc một số người yêu cầu khởi tố vụ án, những người còn lại không yêu cầu khởi tố vụ án do nhiều nguyên nhân khác nhau đã phát sinh vướng mắc trong việc xác định những người không yêu cầu khởi tố vụ án có được coi là bị hại không, trường hợp này có khởi tố vụ án hình sự hay không. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự sẽ không bảo vệ được quyền, lợi ích của người bị hại có yêu cầu khởi tố và ngược lại nếu ra quyết định khởi tố vụ án hình sự lại ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người bị hại không có yêu cầu khởi tố. Giải quyết vấn đề này có các quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Vụ án có nhiều bị hại nhưng chỉ một hoặc một số người yêu cầu khởi tố vụ án, những người còn lại không yêu cầu thì không khởi tố vụ án hình sự vì không đảm bảo được đầy đủ tất cả yêu cầu của các bị hại về việc khởi tố vụ án, do đó không thể khởi tố vụ án. Quan điểm thứ hai cho rằng: Chỉ cần có yêu cầu khởi tố vụ án của một hoặc một số bị hại thì cơ quan tiến hành tố tụng phải khởi tố vụ án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bị hại.
>> Xem thêm: Anh em ruột quan hệ tình dục sẽ phạm tội gì ? Quan hệ với con cô ruột có phạm luật ?
Quan điểm của tác giả: Trường hợp này cơ quan tiến hành tố tụng phải khởi tố vụ án hình sự để điều tra và giải quyết toàn diện các vấn đề trong vụ án, xác định đầy đủ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, phải đặt lợi ích của tất cả bị hại bên cạnh lợi ích của từng bị hại cũng như lợi ích chung của xã hội trong việc xử lý hành vi phạm tội.
Thứ ba, trường hợp vụ án có nhiều người cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị hại chỉ yêu cầu khởi tố vụ án đối với hành vi của một hoặc một số người phạm tội trường hợp này cơ quan điều tra có khởi tố tất cả người phạm tội hay không? Quan điểm thứ nhất cho rằng: Cơ quan điều tra khởi tố vụ án và khởi tố đối với tất cả bị can như thế mới đảm bảo giải quyết triệt để vụ án, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của bị hại. Quan điểm thứ hai: Cơ quan điều tra phải tôn trọng quyền tự định đoạt của bị hại, chỉ giải quyết đối với bị can bị bị hại yêu cầu khởi tố, không giải quyết đối với bị can không bị bị hại yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự.
Quan điểm của tác giả: Trường hợp này cơ quan điều tra sẽ khởi tố vụ án và khởi tố tất cả các bị can, bởi vì theo quy định “khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại”, bị hại chỉ có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, không có quyền yêu cầu khởi tố bị can mà thẩm quyền thuộc về cơ quan điều tra. Khi đã khởi tố thì vụ án phải được giải quyết công bằng và nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Tất cả các bị can đều phải bị xem xét trách nhiệm pháp lý, đối với việc bị hại không yêu cầu khởi tố đối với bị can nào sẽ xem xét là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can đó.
Thứ tư, bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án tại giai đoạn xét xử phúc thẩm xử lý như thế nào?
Điều 155 BLTTHS năm 2015 không giới hạn quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại; bị hại có thể rút yêu cầu khởi tố vụ án ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm hoặc giai đoạn xét xử phúc thẩm, vấn đề là cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết yêu cầu của bị hại một cách hợp lý, đúng quy định pháp luật.
Khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 quy định “trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ”. Quy định này chỉ hợp lý trong trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn điều tra, truy tố, trước khi mở phiên tòa sơ thẩm hoặc tại phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ, thủ tục đình chỉ vụ án trong các trường hợp này được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 230; khoản 1 Điều 248 và khoản 1 Điều 282 BLTTHS năm 2015. Thực tế có thể phát sinh trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm. Khi bị hại rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn xét xử phúc thẩm sẽ khó khăn cho cấp phúc thẩm trong vấn đề xử lý, bởi lẽ các quy định về xét xử phúc thẩm của BLTTHS năm 2015 không đề cập đến vấn đề bị hại rút yêu cầu khởi tố và hướng giải quyết yêu cầu như thế nào? Sau đây, tác giả phân tích từng trường hợp cụ thể:
Trường hợp thứ nhất, bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm. Trường hợp này Toà án phải giải thích cho bị hại về hậu quả của việc rút yêu cầu khởi tố và Tòa án vẫn phải mở phiên tòa xét xử vụ án, không thể đình chỉ vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 282 BLTTHS như đối với thủ tục xét xử sơ thẩm được. Bởi lẽ, thủ tục xét xử phúc thẩm không quy định đình chỉ vụ án mà chỉ có đình chỉ xét xử phúc thẩm. Nếu Tòa án căn cứ vào việc rút yêu cầu của bị hại để đình chỉ xét xử phúc thẩm thì bản án sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật, khi đó việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại sẽ không có ý nghĩa, người phạm tội vẫn phải chấp hành hình phạt theo quyết định của bản án sơ thẩm.
Trường hợp thứ hai, bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa phúc thẩm. Trường hợp này Tòa án cũng không đình chỉ vụ án như tại phiên tòa sơ thẩm, về nguyên tắc và thủ tục tố tụng, Tòa án phải căn cứ vào khoản 2 Điều 155; điểm d khoản 1 Điều 355 BLTTHS năm 2015 để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Tuy nhiên, đối chiếu Điều 359 BLTTHS năm 2015 quy định về căn cứ để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án lại không có trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án. BLTTHS không quy định cụ thể vấn đề bị hại rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn xét xử phúc thẩm dẫn đến quyền rút yêu cầu khởi tố của bị hại được luật quy định, nhưng khi quyền này được thực hiện trên thực tế, cơ quan tiến hành tố tụng lại không có cơ sở pháp lý để giải quyết đúng theo nguyên tắc, thủ tục xét xử phúc thẩm.
5.Đề xuất, kiến nghị
>> Xem thêm: Kỹ năng của luật sư trong việc biết bài bào chữa, bảo vệ trong vụ án hình sự
Qua nghiên cứu khởi tố, giải quyết vụ án theo yêu cầu của bị hại, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị như sau:
Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền cần quy định rõ nghĩa vụ của bị hại trong việc giám định thương tích; trình tự, thủ tục, điều kiện dẫn giải bị hại đi giám định thương tích nếu bị hại từ chối giám định mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
Thứ hai, cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn để các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất thực hiện các trường hợp: Vụ án có nhiều bị hại nhưng chỉ một hoặc một số người yêu cầu khởi tố vụ án, những người còn lại không yêu cầu khởi tố vụ án; vụ án có nhiều người cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị hại chỉ yêu cầu khởi tố vụ án đối với hành vi của một hoặc một số bị can, bị cáo.
Thứ ba, cơ quan có thẩm quyền sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể, rõ ràng trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử phúc thẩm hoặc bổ sung thêm khoản 3 Điều 359 BLTTHS năm 2015 căn cứ để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
Điều 359. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
“1. Khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 157 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án.
2. Khi có một trong những căn cứ quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6, và 7 Điều 157 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
3. Khi bị hại hoặc đại diện hợp pháp của bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.”
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, vui lòng gọi điện vào số: 1900.6162 để được giải đáp.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê