1.  Khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất trong vùng hạn chế 1?

Hạn chế khai thác nước dưới đất trong vùng hạn chế 1 tại các khu vực đã được chi tiết và quy định rõ trong Điều 4 Nghị định 167/2018/NĐ-CP. Đây là một biện pháp quan trọng nhằm bảo vệ và quản lý nguồn nước dưới đất, đặc biệt là trong những khu vực có nguy cơ ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.

- Theo quy định, việc phân loại các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất được thực hiện một cách cụ thể và chi tiết. Mỗi vùng hạn chế bao gồm một hoặc một số khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất. Điều này đồng nghĩa với việc áp dụng các biện pháp quản lý và giới hạn tương ứng tại từng khu vực, nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với nguồn nước và môi trường xung quanh.

- Vùng hạn chế 1 được xác định chi tiết bao gồm các khu vực được quy định tại các điểm c và điểm d của khoản 4 Điều 52 Luật tài nguyên nước. Đồng thời, Nghị định 167/2018/NĐ-CP cũng nêu rõ quy trình xác định và định danh những khu vực này theo quy định tại Điều 6 của Nghị định.

- Trong quá trình thăm dò và khai thác nước dưới đất, điều quan trọng là hạn chế khai thác tại các khu vực có nguy cơ sụt, lún đất, xâm nhập mặn, gia tăng ô nhiễm do khai thác nước dưới đất. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của việc bảo vệ đất đai và ngăn chặn các tác động tiêu cực đối với địa hình và môi trường.

- Ngoài ra, cũng được quy định là hạn chế khai thác nước dưới đất tại những khu vực có nguồn nước dưới đất bị ô nhiễm hoặc có dấu hiệu ô nhiễm mà chưa có giải pháp công nghệ xử lý bảo đảm chất lượng. Điều này thể hiện sự chú trọng đặc biệt đối với vấn đề ô nhiễm nước dưới đất và đồng thời khuyến khích sự đổi mới trong công nghệ xử lý nước để đảm bảo an toàn và sạch sẽ cho nguồn nước cung cấp.

Tổng cộng, việc hạn chế khai thác nước dưới đất trong vùng hạn chế 1 không chỉ là một biện pháp ngăn chặn các tác động tiêu cực đối với môi trường và nguồn nước mà còn là một bước quan trọng trong việc bảo vệ và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước quý báu của đất nước.

 

2.  Quy định về các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất trong vùng hạn chế 1 ?

Các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất trong vùng hạn chế 1 đã được quy định chi tiết trong khoản 4 Điều 6 của Nghị định 167/2018/NĐ-CP. Cụ thể, các biện pháp này bao gồm:

- Đối với các khu vực được quy định tại khoản 1 của Điều này, hoạt động khai thác nước dưới đất hiện có (nếu có) sẽ được dừng toàn bộ. Đồng thời, các giếng sẽ được xử lý, trám lấp theo quy định để đảm bảo an toàn và bảo vệ nguồn nước dưới đất.

- Đối với các khu vực liền kề được quy định tại khoản 3 của Điều này, không được cấp phép thăm dò, khai thác nước dưới đất để xây dựng thêm các công trình khai thác mới. Ngoài ra, các công trình hiện có trong khu vực này cũng phải tuân thủ các biện pháp hạn chế khai thác được quy định tại các điểm c, d và đ của khoản này.

- Đối với các công trình không có giấy phép, ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, còn phải đình chỉ hoạt động khai thác và tiến hành xử lý, trám lấp giếng theo quy định. Tuy nhiên, có một ngoại lệ áp dụng cho trường hợp quy định tại điểm d của khoản này.

- Đối với các công trình đang khai thác nước dưới đất để cung cấp nước cho các mục đích sử dụng quy định tại điểm c khoản 3 của Nghị định này, nếu công trình này thuộc trường hợp phải có giấy phép khai thác nước dưới đất nhưng lại không có giấy phép, thì công trình đó có thể được cấp giấy phép khai thác nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước. Tuy nhiên, trước khi được cấp giấy phép, công trình phải tuân thủ các quy định về xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

- Trường hợp công trình đã có giấy phép, sẽ được tiếp tục khai thác cho đến khi hết thời hạn hiệu lực của giấy phép. Gia hạn, điều chỉnh, hoặc cấp lại giấy phép chỉ áp dụng cho công trình cấp nước và phải tuân thủ quy định tại điểm c khoản 3 của Nghị định này, nếu công trình đáp ứng đủ các điều kiện để được gia hạn, điều chỉnh, hoặc cấp lại giấy phép theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước.

 

3. Việc thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất mà có liên quan đến trám lấp giếng ?

Việc thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất, đặc biệt là liên quan đến trám lấp giếng, đòi hỏi sự chặt chẽ và hiệu quả để bảo vệ tài nguyên nước quý báu. Trong bối cảnh này, quy định tại khoản 3 của Điều 5 Nghị định 167/2018/NĐ-CP đã đề cập đến cách thức thực hiện các biện pháp này một cách cụ thể.

- Đầu tiên, để áp dụng các hình thức hạn chế khai thác nước dưới đất, quy định tại khoản 5 của Điều 52 Luật tài nguyên nước đặt ra yêu cầu phải dựa trên cơ sở phân loại các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất theo Điều 4 của Nghị định. Việc này đòi hỏi sự xác định chính xác về hiện trạng khai thác và sử dụng nước, được thực hiện thông qua quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này cung cấp cơ sở để áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất theo quy định chi tiết tại Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9 và Điều 10 của Nghị định nói trên.

- Đối với việc thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất, quy định tại Điều 13 của Nghị định 167/2018/NĐ-CP đề cập đến việc lập kế hoạch và lộ trình cụ thể. Theo đó, các bước hạn chế khai thác nước dưới đất phải được thực hiện một cách có hệ thống và đồng bộ, trừ trường hợp có sự cố, gây sụt, lún đất hoặc tình huống khẩn cấp, cần phải xử lý bằng cách trám lấp giếng để khắc phục tình trạng đó. Điều này đảm bảo tính toàn diện và linh hoạt trong việc quản lý tài nguyên nước.

- Khi có liên quan đến trám lấp giếng, quy định về xử lý, trám lấp giếng (gọi tắt là quy định về xử lý, trám lấp giếng) được áp dụng theo quy định của Nghị định. Điều này bao gồm các quy tắc và tiêu chuẩn cụ thể để đảm bảo rằng quá trình trám lấp giếng diễn ra một cách an toàn, hiệu quả và không ảnh hưởng đến môi trường. Quy định này cung cấp hướng dẫn chi tiết để người thực hiện có thể thực hiện nhanh chóng và đúng đắn.

- Trong trường hợp liên quan đến cấp, gia hạn, điều chỉnh, thu hồi, cấp lại giấy phép tài nguyên nước, quy định của pháp luật về tài nguyên nước sẽ được áp dụng. Điều này bao gồm quy trình và tiêu chí cụ thể để đảm bảo rằng quyết định về giấy phép được đưa ra một cách minh bạch và công bằng, đồng thời đảm bảo rằng mọi biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất đều tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Tóm lại, việc thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất, đặc biệt là liên quan đến trám lấp giếng, đòi hỏi sự chặt chẽ và linh hoạt theo quy định của Nghị định 167/2018/NĐ-CP. Điều này nhằm bảo vệ tài nguyên nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả trong quản lý tài nguyên nước quốc gia

Quý khách có thể tham khảo thêm bài viết sau của Luật Minh Khuê >>> Trình tự, thủ tục đề nghị gia hạn, sửa đổi, cấp lại Giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất

Chúng tôi luôn đặt lợi ích và sự hài lòng của quý khách lên hàng đầu. Vì vậy, nếu trong quá trình đọc bài viết hoặc tiếp cận với các quy định pháp luật, quý khách gặp bất kỳ khúc mắc, thắc mắc hay cần sự tư vấn, chúng tôi xin trân trọng mời quý khách liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900.6162 hoặc gửi email tới địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn. Quý khách có thể yên tâm rằng thông tin và thắc mắc của quý khách sẽ được bảo mật tuyệt đối. Chúng tôi cam kết tuân thủ các quy định về bảo vệ thông tin cá nhân và không tiết lộ thông tin của quý khách cho bất kỳ bên thứ ba nào.

Với sứ mệnh tạo ra sự an tâm và hỗ trợ tối đa cho quý khách, chúng tôi luôn sẵn lòng đồng hành và đáp ứng mọi yêu cầu và mong muốn của quý khách. Quý khách hãy liên hệ với chúng tôi ngay để nhận được sự hỗ trợ tốt nhất và giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả.