Kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước là những người được giao nhiệm vụ thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát việc quản lý, điều hành và sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp. Với vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của hoạt động quản trị doanh nghiệp, Kiểm soát viên phải thực hiện nhiệm vụ một cách khách quan, trung thực và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc quy định rõ trách nhiệm của Kiểm soát viên không chỉ giúp nâng cao hiệu quả giám sát mà còn góp phần phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm trong quá trình quản lý doanh nghiệp. Thông qua đó, hoạt động của doanh nghiệp nhà nước được kiểm soát chặt chẽ hơn, bảo đảm việc sử dụng vốn và tài sản nhà nước đúng mục đích, hiệu quả và phù hợp với định hướng phát triển của Nhà nước.

1. Chế độ làm việc của Ban kiểm soát

Trong doanh nghiệp, Ban kiểm soát là bộ phận có nhiệm vụ giám sát hoạt động quản lý và điều hành của công ty nhằm bảo đảm các hoạt động được thực hiện đúng quy định pháp luật và điều lệ doanh nghiệp. Để thực hiện hiệu quả chức năng này, pháp luật quy định rõ chế độ làm việc của Ban kiểm soát, bao gồm việc lập kế hoạch hoạt động, phân công nhiệm vụ, cơ chế họp và cách thức thông qua các quyết định. Những quy định này nhằm bảo đảm hoạt động kiểm soát được tiến hành thường xuyên, có tổ chức và đạt hiệu quả cao. Theo Điều 104 Luật doanh nghiệp 2020, Chế độ làm việc của Ban kiểm soát trong doanh nghiệp được quy định với các nội dung cơ bản sau:

- Trưởng Ban kiểm soát xây dựng kế hoạch công tác hằng tháng, hằng quý và hằng năm của Ban kiểm soát; phân công nhiệm vụ và công việc cụ thể cho từng Kiểm soát viên.

Trong hoạt động của Ban kiểm soát, Trưởng Ban kiểm soát giữ vai trò điều phối và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kiểm soát. Theo đó, Trưởng Ban kiểm soát có trách nhiệm xây dựng kế hoạch công tác hằng tháng, hằng quý và hằng năm của Ban kiểm soát. Kế hoạch này giúp xác định rõ các nội dung kiểm tra, giám sát cũng như định hướng hoạt động của Ban kiểm soát trong từng giai đoạn. Đồng thời, Trưởng Ban kiểm soát cũng thực hiện việc phân công nhiệm vụ và công việc cụ thể cho từng Kiểm soát viên để bảo đảm mỗi thành viên đều có trách nhiệm rõ ràng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm soát.

- Kiểm soát viên chủ động và độc lập thực hiện nhiệm vụ và công việc được phân công; đề xuất, kiến nghị thực hiện nhiệm vụ, công việc kiểm soát khác ngoài kế hoạch, ngoài phạm vi được phân công khi xét thấy cần thiết.

Sau khi được phân công nhiệm vụ, mỗi Kiểm soát viên phải chủ động và độc lập thực hiện các nhiệm vụ và công việc được giao. Sự chủ động và độc lập này giúp bảo đảm tính khách quan và hiệu quả trong quá trình kiểm tra, giám sát. Ngoài ra, khi phát hiện những vấn đề cần được kiểm tra hoặc những dấu hiệu có thể ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, Kiểm soát viên có quyền đề xuất, kiến nghị thực hiện thêm các nhiệm vụ hoặc công việc kiểm soát khác ngoài kế hoạch đã đề ra hoặc ngoài phạm vi nhiệm vụ được phân công khi xét thấy cần thiết.

- Ban kiểm soát họp ít nhất mỗi tháng một lần để rà soát, đánh giá, thông qua báo cáo kết quả kiểm soát trong tháng trình cơ quan đại diện chủ sở hữu; thảo luận và thông qua kế hoạch hoạt động tiếp theo của Ban kiểm soát.

Để bảo đảm việc theo dõi và đánh giá hoạt động kiểm soát được thực hiện thường xuyên, Ban kiểm soát phải tổ chức họp ít nhất mỗi tháng một lần. Trong các cuộc họp này, các thành viên Ban kiểm soát tiến hành rà soát và đánh giá các hoạt động kiểm soát đã thực hiện trong tháng, đồng thời thông qua báo cáo kết quả kiểm soát để trình cơ quan đại diện chủ sở hữu. Bên cạnh đó, cuộc họp cũng là dịp để các thành viên thảo luận và thống nhất kế hoạch hoạt động tiếp theo của Ban kiểm soát nhằm bảo đảm công tác kiểm soát được thực hiện liên tục và hiệu quả.

- Quyết định của Ban kiểm soát được thông qua khi có đa số thành viên dự họp tán thành. Các ý kiến khác với nội dung quyết định đã được thông qua phải được ghi chép đầy đủ, chính xác và báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu.

Trong quá trình họp và thảo luận, các quyết định của Ban kiểm soát chỉ được thông qua khi có đa số thành viên tham dự cuộc họp tán thành. Quy định này nhằm bảo đảm tính dân chủ và khách quan trong việc đưa ra các quyết định của Ban kiểm soát. Đồng thời, đối với những ý kiến không đồng ý với nội dung quyết định đã được thông qua, các ý kiến này vẫn phải được ghi chép đầy đủ và chính xác trong biên bản cuộc họp, sau đó báo cáo lên cơ quan đại diện chủ sở hữu để bảo đảm tính minh bạch và đầy đủ thông tin trong hoạt động của Ban kiểm soát.

2. Trách nhiệm của Kiểm soát viên doanh nghiệp nhà nước

Theo Điều 107 Luật doanh nghiệp 2020, Trách nhiệm của Kiểm soát viên trong doanh nghiệp được quy định với các nội dung cụ thể sau:

- Tuân thủ pháp luật, Điều lệ công ty, quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu và đạo đức nghề nghiệp trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của Kiểm soát viên.

Quy định này yêu cầu Kiểm soát viên khi thực hiện nhiệm vụ phải chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật, các nội dung được ghi nhận trong Điều lệ công ty cũng như các quyết định do cơ quan đại diện chủ sở hữu ban hành. Bên cạnh đó, Kiểm soát viên còn phải tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, bảo đảm việc thực hiện chức năng giám sát diễn ra một cách khách quan, minh bạch và đúng chuẩn mực nghề nghiệp.

- Thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, công ty và lợi ích hợp pháp của các bên tại công ty.

Kiểm soát viên phải thực hiện nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao, bảo đảm tính trung thực và cẩn trọng trong mọi hoạt động kiểm tra, giám sát. Việc thực hiện nhiệm vụ không chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước - chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước - mà còn nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của công ty và các bên có liên quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

- Trung thành với lợi ích của Nhà nước và công ty; không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.

Quy định này đặt ra nghĩa vụ trung thành đối với Kiểm soát viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Kiểm soát viên không được lợi dụng vị trí, chức vụ của mình để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc lợi ích của tổ chức, cá nhân khác. Đồng thời, họ cũng không được sử dụng thông tin nội bộ, bí quyết kinh doanh, cơ hội đầu tư hoặc tài sản của công ty để trục lợi riêng, nhằm bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong hoạt động của doanh nghiệp.

- Trường hợp vi phạm trách nhiệm quy định tại Điều này mà gây thiệt hại cho công ty thì Kiểm soát viên phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới bồi thường thiệt hại đó; tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và thiệt hại còn có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật; hoàn trả lại cho công ty mọi thu nhập và lợi ích có được do vi phạm trách nhiệm quy định tại Điều này.

Nếu Kiểm soát viên vi phạm các trách nhiệm đã được quy định và hành vi đó gây thiệt hại cho công ty thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trách nhiệm này có thể là trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới tùy theo mức độ tham gia vào hành vi vi phạm. Ngoài nghĩa vụ bồi thường, Kiểm soát viên còn có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi vi phạm có tính chất nghiêm trọng. Đồng thời, mọi lợi ích hay thu nhập có được từ hành vi vi phạm cũng phải hoàn trả lại cho công ty.

- Báo cáo kịp thời cho cơ quan đại diện chủ sở hữu, đồng thời yêu cầu Kiểm soát viên chấm dứt hành vi vi phạm và khắc phục hậu quả trong trường hợp phát hiện Kiểm soát viên đó vi phạm quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm được giao.

Trong trường hợp phát hiện một Kiểm soát viên khác có hành vi vi phạm quyền, nghĩa vụ hoặc trách nhiệm được giao, Kiểm soát viên phải kịp thời báo cáo sự việc cho cơ quan đại diện chủ sở hữu. Đồng thời, họ cũng có trách nhiệm yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi sai phạm và có biện pháp khắc phục hậu quả nhằm hạn chế thiệt hại cho công ty.

- Báo cáo kịp thời cho cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty, Kiểm soát viên khác và cá nhân có liên quan, đồng thời yêu cầu cá nhân đó chấm dứt hành vi vi phạm và khắc phục hậu quả trong các trường hợp sau:

i) Phát hiện có thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác làm trái quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ hoặc có nguy cơ làm trái quy định đó. Trong trường hợp phát hiện những người quản lý của công ty có hành vi trái quy định hoặc có nguy cơ thực hiện hành vi vi phạm, Kiểm soát viên phải kịp thời báo cáo và yêu cầu người đó dừng hành vi sai phạm để bảo đảm hoạt động của doanh nghiệp diễn ra đúng quy định.

ii) Phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, trái quy định Điều lệ công ty hoặc quy chế quản trị nội bộ công ty. Khi phát hiện bất kỳ hành vi nào vi phạm pháp luật, Điều lệ công ty hoặc quy chế quản trị nội bộ, Kiểm soát viên phải báo cáo ngay cho cơ quan đại diện chủ sở hữu và những người có liên quan. Đồng thời, Kiểm soát viên cần yêu cầu cá nhân vi phạm chấm dứt hành vi và thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả.

- Trách nhiệm khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

Ngoài các trách nhiệm đã được quy định cụ thể, Kiểm soát viên còn phải thực hiện những trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. Điều này nhằm bảo đảm rằng hoạt động của Kiểm soát viên luôn phù hợp với các quy định chung của pháp luật cũng như đặc điểm quản trị của từng doanh nghiệp.

3. Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên bao gồm những nội dung gì?

Theo khoản 4 Điều 10 của Nghị định 47/2021/NĐ-CP quy định về Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, quy chế hoạt động của Ban kiểm soát và Kiểm soát viên được xây dựng nhằm quy định rõ phạm vi hoạt động, cơ chế phối hợp và các điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra trong doanh nghiệp; theo đó, quy chế này bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Phạm vi, nội dung thực hiện các quyền, nghĩa vụ và nhiệm vụ được giao của Ban Kiểm soát, Kiểm soát viên.

Nội dung này xác định rõ giới hạn và phạm vi hoạt động của Ban kiểm soát và từng Kiểm soát viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Việc quy định cụ thể phạm vi và nội dung thực hiện quyền, nghĩa vụ giúp Ban kiểm soát thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát đúng thẩm quyền, tránh tình trạng vượt quá hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạt động của Ban kiểm soát và Kiểm soát viên trong doanh nghiệp.

- Cơ chế phối hợp; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp đối với hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên.

Quy chế hoạt động cần quy định rõ cơ chế phối hợp giữa Ban kiểm soát với doanh nghiệp và những người quản lý doanh nghiệp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, quy định này cũng làm rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp cũng như của người quản lý doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin, hỗ trợ và tạo điều kiện để Ban kiểm soát và Kiểm soát viên thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát một cách hiệu quả.

- Cơ chế phối hợp, báo cáo, xin ý kiến giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu và Ban kiểm soát, Kiểm soát viên trong thực hiện quyền, nghĩa vụ được giao.

Ban kiểm soát và Kiểm soát viên hoạt động dưới sự giám sát của cơ quan đại diện chủ sở hữu, vì vậy cần có cơ chế phối hợp rõ ràng trong việc báo cáo, trao đổi thông tin và xin ý kiến chỉ đạo. Quy định này giúp bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa Ban kiểm soát và cơ quan đại diện chủ sở hữu, từ đó nâng cao hiệu quả giám sát và quản lý đối với doanh nghiệp.

- Cơ chế phối hợp giữa Ban kiểm soát, Kiểm soát viên với doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp và người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp tại doanh nghiệp khác trong thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên đối với doanh nghiệp, công ty con, công ty có phần vốn góp hoặc công ty liên kết của doanh nghiệp.

Quy định này nhằm thiết lập cơ chế phối hợp giữa Ban kiểm soát với các chủ thể có liên quan trong hệ thống quản trị doanh nghiệp. Không chỉ phối hợp với doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp, Ban kiểm soát còn phải phối hợp với người đại diện phần vốn nhà nước và người đại diện phần vốn của doanh nghiệp tại các doanh nghiệp khác. Điều này giúp bảo đảm việc giám sát được thực hiện một cách toàn diện, bao gồm cả hoạt động của công ty con, công ty liên kết hoặc các doanh nghiệp có phần vốn góp của doanh nghiệp.

- Cơ chế đánh giá việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và nhiệm vụ của Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên.

Quy chế hoạt động cũng cần quy định cách thức và tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của Trưởng Ban kiểm soát và các Kiểm soát viên. Việc đánh giá này giúp xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân, đồng thời là cơ sở để xem xét khen thưởng, xử lý trách nhiệm hoặc đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban kiểm soát.

- Tiền lương, thù lao, tiền thưởng, điều kiện làm việc, định mức chi phí công tác, chi phí hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên.

Quy chế hoạt động cũng phải quy định rõ các vấn đề liên quan đến chế độ đãi ngộ và điều kiện làm việc của Ban kiểm soát và Kiểm soát viên. Những nội dung này bao gồm tiền lương, thù lao, tiền thưởng, điều kiện làm việc cũng như định mức chi phí công tác và chi phí hoạt động. Việc quy định cụ thể các chế độ này giúp bảo đảm quyền lợi cho Kiểm soát viên và tạo điều kiện thuận lợi để họ thực hiện nhiệm vụ giám sát một cách hiệu quả.

- Nội dung khác theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu.

Ngoài các nội dung đã được quy định cụ thể, cơ quan đại diện chủ sở hữu còn có thể quyết định bổ sung thêm các nội dung khác trong quy chế hoạt động của Ban kiểm soát và Kiểm soát viên. Những nội dung bổ sung này có thể được xây dựng tùy theo đặc điểm tổ chức, quy mô và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp nhằm bảo đảm hoạt động kiểm soát được thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Kết luận

Như vậy, trách nhiệm của Kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo đảm tính minh bạch, kỷ luật và hiệu quả trong hoạt động quản lý doanh nghiệp. Thông qua việc thực hiện đầy đủ trách nhiệm kiểm tra, giám sát và báo cáo, Kiểm soát viên có thể kịp thời phát hiện những hạn chế, sai sót hoặc vi phạm trong quá trình điều hành doanh nghiệp, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp phù hợp nhằm khắc phục và hoàn thiện công tác quản lý. Việc thực hiện nghiêm túc các trách nhiệm này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp mà còn bảo đảm việc quản lý và sử dụng nguồn lực của Nhà nước một cách chặt chẽ, minh bạch và hiệu quả. Trong bối cảnh yêu cầu về quản trị doanh nghiệp ngày càng cao, vai trò và trách nhiệm của Kiểm soát viên càng trở nên quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển ổn định và bền vững của doanh nghiệp nhà nước.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.