1. Khái quát về việc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Thái Lan

Trong giai đoạn từ 2011 cho đến 2018, Thái Lan đã áp dụng 04 biện pháp tự vệ thương mại đối với hàng nhập khẩu từ nước ngoài vào thị trường này.

Mặc dù với số lượng các quyết định áp dụng biện pháp tự vệ thương mại không nhiều, nhưng ngay từ năm 2007, Thái Lan đã xây dựng và ban hành Luật Tự vệ thương mại đối với sự gia tăng hàng hoá nhập khẩu. Luật gồm 07 chương, 42 điều, trong đó điều chỉnh mọi lĩnh vực liên quan đến tự vệ thương mại của Thái Lan.

Trên cơ sở đó, Thái Lan đã thành lập Uỷ ban Tự vệ thương mại, bao gồm Bộ trưởng Bộ Thương mại làm Chủ tịch, Thư ký Thường trực của Bộ Thương mại là Vụ trưởng Vụ Ngoại thương, đại diện của Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, Bộ Công nghiệp, Bộ Lao động, Văn phòng Uỷ Ban Bảo vệ người tiêu dùng và 07 chuyên gia được Thủ tướng bổ nhiệm làm thành viên. Uỷ ban có chức năng và nhiệm vụ quyết định áp dụng biện pháp tự vệ theo luật; mức bồi thường thiệt hại; tư vấn chính sách và ra Thông báo; thành lập các tiểu ban và thực thi các chức năng khác theo luật và của Chính phủ.

2. Quy định chi tiết của Thái Lan

Thái Lan đã xây dựng qui trình chi tiết, làm cơ sở cho cơ quan quản lý nhà nước tiến hành khởi xướng điều tra tự vệ thương mại . Cụ thể:

Nhà sản xuất sản phẩm tương tự hoặc nhà sản xuất từ các linh kiện, bộ phận của các nhà sản xuất khác đáp ứng tiêu chí theo quy định của Bộ Thương mại có quyền yêu cầu Uỷ ban tự vệ thương mại khởi xướng điều tra biện pháp tự vệ khi họ cho rằng có sự gia tăng nhập khẩu các sản phẩm nhập khẩu tương tự và gây tổn thất cho ngành công nghiệp trong nước. Yêu cầu này được gửi đến Vụ Ngoại thương cùng với bằng chứng và thông tin cho thấy rằng có sự gia tăng nhập khẩu và gây tổn thất cho ngành công nghiệp trong nước. Yêu cầu khởi xướng điều tra phải được làm theo mẫu của Bộ Thương mại.

- Khi Vụ Ngoại thương xét thấy có bằng chứng về nhập khẩu gia tăng và gây tổn thất cho ngành công nghiệp trong nước, Vụ đề xuất Uỷ ban tự vệ thương mại để ra quyết định khơi xướng điều tra. Cơ sở để ra quyết định dựa trên các yếu tố sau:

- Gia tăng tỷ lệ và số lượng hàng nhập khẩu;

- Gia tăng thị phần của hàng nhập khẩu;

- Thay đổi về doanh số bán hàng;

- Thay đổi về khối lượng sản xuất;

- Thay đổi năng suất lao động;

- Thay đổi công suất hoạt động sản xuất;

- Thay đổi mức lợi nhuận và thua lỗ.

Việc xác định liệu hàng hoá nhập khẩu có thực sự gây tổn thất cho ngành công nghiệp trong nước hay từ nguyên nhân khác phải dựa trên những sự kiện, chứng cứ rõ ràng, thực tế và không được dựa trên cáo buộc, phỏng đoán hoặc từ dự báo khả năng xảy ra tổn thất. Sau khi xác định có sự tổn thất cho ngành công nghiệp trong nước, Vụ Ngoại thương là đơn vị có thẩm quyền điều tra thông tin về gia tăng hàng nhập khẩu và mức độ thiệt hại sẽ ra Thông báo điều tra, được đăng công khai trên phương tiện thông tin đại chúng và bên nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ thương mại .

Các tiêu chí điều tra trong thông báo ít nhất bao gồm:

- Xác định sản phẩm nhập khẩu được điều tra;

- Ngày bắt đầu điều tra;

- Thông tin sơ bộ về việc tăng nhập khấu và mức độ thiệt hại.

Trong quá trình điều tra, Vụ Ngoại thương phải mời các nhà nhập khẩu, xuất khẩu và các bên liên quan cung cấp bằng chứng, tài liệu và quan điểm để hỗ trợ hoặc phản đối yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ thương mại. Sau khi hoàn thành điều tra, Vụ Ngoại thương lập một bản tóm tắt kết quả điều tra và đưa ra quan điểm, đề xuất với Uỷ ban tự vệ thương mại để ra quyết định áp dụng biện pháp tự vệ thương mại. Nếu thấy cần phải áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời, Uỷ ban tự vệ thương mại sẽ áp thuế tạm thời theo tỷ lệ phù hợp. Thuế tự vệ thương mại tạm thời là một hình thức thuế nhập khẩu bổ sung theo tỷ lệ thông thường được quy định trong biểu thuế hoặc trong theo luật thuế hiện hành.

Các quy định của luật hải quan và luật thuế quan sẽ được áp dụng đối với việc áp dụng thuế tạm thời như nhiệm vụ đó là thuế nhập khẩu theo các luật đó. Việc áp dụng thuế tạm thời không quá 200 ngày kể từ ngày được công bố trong Công báo.

Trong trường hợp Uỷ ban xác định không có sự gia tăng hàng nhập khẩu hay không gây tổn hại cho sản xuất trong nước, Vụ Ngoại thương sẽ thông báo cho bên yêu cầu và ra quyết định chấm dứt xử lý vụ việc. Các khoản thuế tạm thời đã thu phải được hoàn trả ngay theo qui định của pháp luật hiện hành. Thời gian từ khi khởi xướng điều tra đến khi ra quyết định cuối cùng để xác định rằng biện pháp tự vệ có được áp dụng hay không phải được hoàn thành trong vòng 270 ngày kể từ ngày thông báo điều tra và được gia hạn không quá 90 ngày.

Trong trường hợp Uỷ ban kết luận rằng có sự gia tăng nhập khẩu và tổn hại cho sản xuất trong nước, biện pháp tự vệ chính thức sẽ được áp dụng đồng thời hoặc riêng lẻ như sau:

- Áp thuế theo một tỷ lệ quy định;

- Hạn chế định lượng nhập khẩu;

Bất kỳ biện pháp nào khác ngoài những điều trên có tác dụng giảm hoặc hạn chế nhập khẩu để cho phép các nhà sản xuất các sản phẩm tương tự hoặc ngành công nghiệp trong nước có cơ hội thực hiện kế hoạch điều chỉnh phù hợp.

Biện pháp tự vệ được áp dụng với sự gia tăng hàng nhập khẩu bất kể nguồn gốc xuất xứ và chỉ được sử dụng ở mức độ cần thiết để ngăn ngừa hoặc khắc phục những tổn thất và dành thời gian cho các nhà sản xuất điều chỉnh sản phẩm hoặc ngành công nghiệp trong nước.

3. Áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Hoa Kỳ

Mặc dù là quốc gia khởi xướng nhiều vụ điều tra tự vệ thương mại, nhưng trong khoảng thời gian từ 2011 cho đến 2018, Hoa Kỳ mới chỉ áp dụng 02 biện pháp tự vệ thương mại đối với thép (25%) và nhôm (10%) nhập khẩu từ nước ngoài vào thị trường này.

Không giống như nhiều nước trên thế giới thường ban hành một đạo luật riêng để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến phòng vệ thương mại, trong đó có tự vệ thương mại, cơ sở để ra quyết định khởi xướng vụ việc hay áp dụng biện pháp tự vệ thương mại dựa trên một số điều khoản nằm trong các đạo luật riêng rẽ, dưới đây chúng ta sẽ cùng đi tìm hiể u các đạo luật đó.

4. Đạo luật Thương mại năm 1974 - Mục 201

Qui định Tổng thống Hoa Kỳ có thẩm quyền xem xét để áp dụng biện pháp tự vệ thương mại khi xác định mặt hàng nào đó nhập khẩu ồ ạt với số lượng đáng kể, gây tổn hại nghiêm trọng hay đe doạ ảnh hưởng trực tiếp đến ngành công nghiệp sản xuất trong nước. Qui định này phù hợp với Điều XIX của GATT và Hiệp định Tự vệ trong WT0.

Theo Mục 201, các ngành công nghiệp trong nước bị thiệt hại có thể kiến nghị ủy ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ƯSITC) đưa ra biện pháp nhằm giảm hàng nhập khẩu. USITC xác định liệu hàng hoá đó có được nhập khẩu với số lượng đến mức độ là nguyên nhân gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ đến ngành công nghiệp sản xuất Hoa Kỳ và có cạnh tranh trực tiếp với hàng nhập khẩu hay không. Nếu xác định là có cơ sở, Uỷ ban sẽ đề xuất lên Tổng thống để ra quyết định xử lý cuối cùng, trong đó có cả biện pháp cứu trợ hoặc hỗ trợ tài chính.

Các tiêu chí giúp làm giảm lượng hàng nhập khẩu theo mục 201 dựa trên các qui định trong Điều XIX của GATT cũng như trong Hiệp định về Tự vệ của WTO. Điều XIX của GATT đôi khi được gọi là điều khoản miễn trừ trách nhiệm khi cho phép một quốc gia tạm thời tránh khỏi các nghĩa vụ của mình theo GATT đổi với một sản phẩm cụ thể khi việc gia tăng nhập khẩu đang gây ra hoặc đe doạ gây ra tổn thất nghiêm trọng cho các nhà sản xuất trong nước.

5. Đạo luật mở rộng thương mại năm 1962 (19 u.s.c 1862)

Cụ thể ở đạo luật này là Mục 232 nhằm xác định sản phẩm nhập khẩu vào Hoa Kỳ với số lượng lớn hoặc làm suy yếu an ninh quốc gia .

Mục 232 Đạo luật mở rộng thương mại năm 1962 của Hoa Kỳ quy định về việc Tổng thống Hoa Kỳ có thể áp dụng biện pháp hạn chế đối với hàng nhập khẩu vì lý do an ninh quốc gia. Mặc dù có một số điểm tương đồng, nhưng khác với vụ việc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ thương mại, ngoài việc đánh giá, xem xét các yếu tố về lượng nhập khẩu, tác động tới ngành sản xuất nội địa, đặc biệt là thiệt hại của ngành sản xuất nội địa, cơ quan điều tra còn cần xem xét, đánh giá tác động ảnh hưởng của hàng nhập khẩu đó tới an ninh quốc gia. Mục 232 là một công cụ pháp lý ít được sử dụng và hầu hết các vụ việc điều tra theo quy định tại Mục 232 đều có kết luận là không áp dụng biện pháp tự vệ thương mại. Gần đây nhất vào tháng 4/2017, Hoa Kỳ đã khởi xướng điều tra tự vệ thương mại đối với sản phẩm thép nhập khẩu theo Mục 232. Ngoài nguyên nhân liên quan đến an ninh quốc gia, việc khởi xướng điều tra còn tập trung vào các hành động không công bằng khác gây ra sự giảm giá mạnh trên thị trường thép.

6. Đạo luật thực thi NAFTA và Đạo luật Thương mại năm 1974

a. Đạo luật thực thi NAFTA - Mục '302 về điều tra tự vệ song phương

Theo Mục 302 của Đạo luật này, USITC xác định liệu hàng nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ từ Canada hoặc Mexico gia tăng đáng kể, nhờ các qui định về giảm hoặc loại bỏ nghĩa vụ theo NAFTA, có phải là nguyên nhân gây tổn hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây tổn hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp sản xuất trong nước. Neu xác định là có cơ sở, Uỷ ban sẽ đề xuất lên Tổng thống để ra quyết định xử lý cuối cùng. Thủ tục điều tra theo Mục 302 giống như thủ tục theo Mục 201 của Đạo luật Thương mại năm 1974.

b. Đạo luật Thương mại năm 1974 - Mục 421 về tự vệ thương mại riêng với Trung Quốc

Đây là cơ chế làm giảm lượng nhập khẩu, qua đó giúp ngành sản xuất công nghiệp của Hoa Kỳ đối phó với sự gia tăng nhập khẩu từ Trung Quốc. Ngoài việc áp dụng cho một quốc gia cụ thể (trong khi các biện pháp tự vệ, Mục 201 thông thường phải áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu từ tất cả các nguồn), Mục 421 đưa ra tiêu chí điều tra nới lỏng hơn nhiều, tức là khởi xướng điều tra đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc và chỉ yêu cầu bằng chứng là có sự gia tăng nhập khẩu gây thiệt hại về “vật chất” (khác với qui định về tự vệ thương mại là gia tăng nhập khẩu gây thiệt hại “đáng kể”). Mặc dù có tranh luận cho rằng cơ chế này chỉ được áp dụng trong 12 năm sau khi Trung Quốc gia nhập WTO (hết ngày 11/12/2013, nhưng quy định liên quan trong Đạo luật Thương mại năm 1974 đã được sửa đổi vào ngày 23/3/2018, cũng như tích hợp trong bộ use Hoa Kỳ, do vậy, Mục 421 vẫn còn hiệu lực thực hiện. Thủ tục, qui trình thực hiện vụ việc tự vệ thương mại theo Mục 421 tương tự như của Mục 201.

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)