Khách hàng: Kính thưa Luật sư Kinh Khuê, Luật sư hãy cho tôi biết Việt Nam có thể có những kinh nghiệm gì trong việc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, cụ thể là kinh nghiệm trong phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế và kinh nghiệm giải quyết tranh chấp đẩu tư quốc tế?

Cảm ơn!

Trả lời:

 

Thứ nhất, kinh nghiệm trong phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế

Qua thực tiễn của các quốc gia nêu trên về phòng ngừa tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nưốc có thể rút ra những kinh nghiệm tham khảo sau đây:

 

1. Thiết lập một chế độ cảnh báo sớm kịp thời

Đó chính là thiết lập một chế độ cảnh báo sớm kịp thời cho các cơ quan nhà nước về nguy cơ phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế.

Áp dụng kinh nghiệm của Hàn Quốc, Việt Nam nên thành lập cơ quan đầu mốỉ về phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế để một mặt, nhận các thắc mắc của nhà đầu tư nước ngoài và giúp các nhà đầu tư nưốc ngoài giải đáp những thắc mắc đó, mặt khác tư vấn cho các cơ quan nhà nưốc trong việc ban hành và thực hiện các chính sách và pháp luật đầu tư nhằm hạn chế tốì đa tranh chấp xảy ra.

 

2. Phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế ngay từ khi đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế về đầu tư

Trên thực tế, một trong những vấn đề tranh luận gay gắt giữa các bên tranh chấp khi tranh tụng tại trọng tài là cách hiểu và diễn giải các quy định trong điều ước quốc tê về đầu tư. Nguyên nhân là do những quy định này chung chung hoặc không rõ ràng trong các điều ước về đầu tư. Kinh nghiệm từ những nước này cho thấy, cần thận trọng hơn trong việc đàm phán và ký kết điều ưốc quốc tế về đầu tư, đậc biệt liên quan tới các điều khoản về cơ chế ISDS. Do đó, việc đào tạo, cung cấp kỹ năng, kinh nghiệm đàm phán cho đội ngũ những người làm việc tại các cơ quan nhà nước có trách nhiệm tham gia đàm phán điều ước quốc tế về đầu tư là cần thiết.

 

Thứ hai, kinh nghiệm giải quyết tranh chấp đẩu tư quốc tế

3. Thiết lập cam kết về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế và hoàn thiện pháp luật trong nước

Từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy, đối với Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, cần có mô hình cơ chế ISDS phù hợp với mình. Theo đó, ISDS phải bảo đảm thuận tiện sử dụng và chi phí không quá cao. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện pháp luật đầu tư trên cơ sỏ kinh nghiệm quốc tế là hết sức cần thiết.

 

4. Sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế

Để giải quyết tốt tranh chấp giữa nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài cần có nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ công tác này. Cùng với đó, một trong những điều quan trọng nhất bảo đảm cho ISDS đạt hiệu quả là các bên cần phải chuẩn bị chu đáo, đầy đủ bằng chứng, tài liệu, nhân lực, tài chính lẫn tâm lý để theo kiện.

Ngoài ra, phương thức tham vấn, thương lượng, hòa giải được nhà đầu tư nước ngoài ưu tiên do chi phí thấp và vẫn duy trì được mối quan hệ với nhà nước của quốc gia nhận đầu tư. Vì vậy, đối với các nhà đầu tư nước ngoài có thiện chí, Nhà nước Việt Nam cần áp dụng triệt để các phương thức tham vấn, thương lượng và hòa giải. Liên quan đến vấn đề này, trong các điều ước quốc tế về đầu tư cũng như trong hợp đồng với nhà đầu tư nước ngoài (nếu có) nên quy định ưu tiên áp dụng các phương thức tham vấn, thương lượng và hòa giải trước khi đưa tranh chấp ra các cơ quan tài phán.

 

5. Kinh nghiệm được rút ra từ một số vụ việc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế cụ thể

Thứ nhất, khoản đầu tư và bảo hộ đầu tư: trên thực tế, một số điều ước hoặc thỏa thuận đầu tư quốc tế đưa ra các định nghĩa về đầu tư, nhưng một số khác như NAFTA, xác định “đầu tư” dưối hình thức một danh sách đầy đủ. Hội đồng trọng tài quốc tế không có thẩm quyền xét xử đối với khoản đầu tư không nằm trong danh mục được liệt kê đó.

Việc nguyên đơn không liệt kê một nội dung khởi kiện theo các điều khoản nào đó của một điều ước quốc tế về đầu tư tại thông báo ý định khỏi kiện cũng sẽ không làm mất quyền xem nội dung đó của hội đồng trọng tài. Mặc dù thông báo đó nhằm mục đích cung cấp cho cả hai bên tranh chấp cơ hội tham vấn để tìm ra giải pháp cùng chấp nhận được và cho bị đơn một cơ hội để trình bày lý lẽ bảo vệ mình.

Ngoài ra, những “khoản đầu tư” vi phạm pháp luật hoặc không tuân thủ điều ước quốc tế về đầu tư sẽ không được bảo hộ;

Thứ hai, đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc: yêu cầu của quốc gia nhận đầu tư về quốc tịch của nhà đầu tư không phải là vi phạm nghĩa vụ đối xử quốc gia. Liên quan đến vấn đề này, nguyên đơn phải cung cấp được bằng chứng về sự kỳ thị, phân biệt của nước nhận đầu tư dựa trên quốc tịch mới có thể chứng minh được vi phạm của phía nhà nước nhận đầu tư. Bên cạnh đó, đánh giá về việc đối xử quốc gia hoặc đối xử tối huệ quốc, hội đồng trọng tài sẽ xem xét việc đối xử của nước nhận đầu tư trong sự so sánh một cách phù hợp để xác định xem nhà đầu tư hoặc khoản đầu tư liệu có được đôì xử “tương tự” đối với các nhà đầu tư, khoản đầu tư trong nước hoặc của nước thứ ba hay không;

Thứ ba, tiêu chuẩn đối xử tối thiểu: tiêu chuẩn đối xử tối thiểu với người nước ngoài và tài sản của họ được quy định trong tập quán quốc tế và không bất biến, mà liên tục phát triển. Tuy nhiên, trong trường hợp nguyên đơn cho rằng, tiêu chuẩn (hoặc tập quán quốc tế) đó đã phát triển hoặc thay đổi, thì phải cung cấp bằng chứng về việc này. Không phải tất cả các nghĩa vụ đối xử tôì thiểu dành cho người nước ngoài theo tập quán quốc tế là tiêu chuẩn đối xử tối thiểu đối vối đầu tư nước ngoài, mà chỉ những điều khoản liên quan;

Thư tư, kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư nước ngoài đòi hỏi một mức độ hợp lý và phải được xem xét theo pháp luật và các quy định hiện hành, đặc biệt là các quy định phổ biến của nhà nưốc nhận đầu tư. Hành vi vi phạm thẩm quyền của cơ quan nhà nước của quốc gia nhận đầu tư không có nghĩa là không phù hợp với tiêu chuẩn đối xử tôi thiểu theo tập quán quốc tế mà phụ thuộc vào bản chất của hành vi đó trong mối quan hệ với tiêu chuẩn đôì xử tối thiểu;

Thứ năm, các bên ký kết là người giải thích cuối cùng điều ước quốc tế về đầu tư, kể cả điều ước đó có hoặc không quy định về vấn đề này. Giải thích của các bên ký kết là cơ sở áp dụng của hội đồng trọng tài được thành lập để giải quyết vụ việc Hên quan;

Thứ sáu, một hành động của nhà nước được coi là chiếm đoạt khoản đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài phải là việc tước đoạt toàn bộ hoặc phần lớn khoản đầu tư của nguyên đơn, chứ không chỉ là một phần của khoản đầu tư;

Thứ bảy, việc xem xét quốc gia có từ chôì công lý đối với nhà đầu tư nước ngoài hay không đòi hỏi phải dựa trên việc hệ thông cơ quan tư pháp của quốc gia đó có tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài đó sử dụng công lý một cách công bằng hay không;

Thứ tám, liên quan đến ISDS theo Quy tắc trọng tài của ICSID đang có hai vấn đề mà các bên tranh chấp cần cân nhắc, đó là: (i) Có thể kéo dài vụ việc do có cơ chế hủy phán quyết trọng tài và (ii) Chi phí cho mỗi vụ việc thường rất cao.

 

6. Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế

Trong phán quyết năm 1924 về vụ tranh chấp Mavrommatis, Toà án Thường trực Công lý quốc tế (tiền thân của Toà án Công lý quốc tế) đã định nghĩa tranh chấp như sau:“tranh chấp là sự bất đồng về mặt pháp lý hay trên thực tế, sự xung đột về mặt quan điểm pháp lý hoặc lợi ích giữa hai hay nhiều người trở lên”.

Trong một phán quyết khác của Toà án Công lý quốc tế có nói: “Tranh chấp được hiểu là một tình huống trong đó hai bên có các quan điểm đối lập liên quan tới câu hỏi về thực hiện hoặc không thực hiện một nghĩa vụ nào đó trong hiệp ước”.

Hay theo từ điển Luật học Black định nghĩa: “tranh chấp được hiểu là mâu thuẫn hay bất đồng về các yêu cầu hay quyền lợi giữa các bên; sự đòi hỏi về yêu cầu hay quyền lợi của một bên bị đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược từ bên kia”.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, các Hội đồng trọng tài của Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (International Center of Settlement Investment Dispute – ICSID) đã áp dụng khái niệm tranh chấp tương tự, thường dựa vào cách định nghĩa của Toà án Thường trực Công lý quốc tế và Toà án Công lý quốc tế.

Như vậy, thuật ngữ “Đầu tư quốc tế” được định nghĩa không đồng nhất trong các Hiệp định đầu tư quốc tế (International Investment Agreements - IIAs). Tuỳ theo mục tiêu các quốc gia thành viên theo đuổi mà trong hiệp ước về đầu tư, các thành viên có thể mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi tiếp cận về khoản đầu tư, hoặc quy định theo cách tiếp cận đóng hoặc mở.

Khái niệm “đầu tư” được định nghĩa dựa vào tài sản nhà đầu tư bỏ ra, hoặc dựa trên hiện diện thương mại mà nhà đầu tư thiết lập trên lãnh thổ nước tiếp nhận đầu tư. Ngoài ra, một số hiệp định có thể đưa ra một số thuộc tính của khoản đầu tư, chẳng hạn như theo đúng cam kết về vốn hoặc nguồn vốn khác, đặc điểm về mức doanh thu hay lợi nhuận kỳ vọng hoặc khả năng chấp nhận rủi ro…, thời hạn cố định… hay trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài hoặc toà án cũng có thể giải thích các đặc điểm của khoản đầu tư để xem xét đối tượng của vụ việc có phải là “khoản đầu tư được điều chỉnh” bởi hiệp định hay không.

Bên cạnh đó, trong các hợp đồng, thoả thuận đầu tư được ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư cũng có thể giải thích thuật ngữ “đầu tư” để áp dụng riêng cho hợp đồng, thoả thuận đó.

Theo Quy chế Phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, tranh chấp đầu tư quốc tế được hiểu “là tranh chấp phát sinh từ việc Nhà đầu tư nước ngoài kiện Chính phủ, Nhà nước Việt Nam hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được cơ quan nhà nước ủy quyền quản lý nhà nước dựa trên cơ sở:

a) Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư hoặc hiệp định thương mại hoặc điều ước quốc tế khác có quy định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam là thành viên (gọi chung là hiệp định bảo hộ đầu tư), trong đó có quy định về việc giải quyết tranh chấp giữa Nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ Việt Nam tại trọng tài quốc tế hay cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền; hoặc

b) Hợp đồng, thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam hoặc cơ quan nhà nước Việt Nam và Nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có quy định cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, thỏa thuận này là trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền”.

Quy chế này đã giới hạn phạm vi điều chỉnh đối với các chủ thể trong tranh chấp, cụ thể là tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư và Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, đồng thời cũng chỉ rõ cơ sở pháp lý phát sinh quyền và nghĩa vụ của các dựa trên hai nguồn chính, đó là Hiệp định bảo hộ đầu tư và hợp đồng, thoả thuận giữa nhà đầu tư và Chính phủ.

=> Như vậy, tranh chấp đầu tư quốc tế là những mâu thuẫn hay bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ đầu tư quốc tế, phát sinh từ các hiệp định có liên quan tới đầu tư quốc tế, hiệp định bảo hộ đầu tư hoặc hợp đồng, thoả thuận đầu tư.

Ở đây, các bên tranh chấp có thể là các quốc gia thành viên ký kết điều ước quốc tế có liên quan/quy định về đầu tư; hoặc tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng hay thoả thuận được ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư; hoặc tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư theo Hiệp định ký kết giữa nước chủ nhà đầu tư và chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, và các tranh chấp có liên quan tới các quan hệ đầu tư khác.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).