- 1. Xử lý đảng viên vi phạm về lĩnh vực tài chính, ngân hàng
- 2. Vi phạm quy định về cấp tín dụng
- 3. Nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng
- 4. Việc phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật
- 5. Một số hành vi vi phạm pháp luật điển hình trong lĩnh vực ngân hàng
1. Xử lý đảng viên vi phạm về lĩnh vực tài chính, ngân hàng
Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 của Ban Chấp hành Trung ương “Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm”.
Cụ thể, Điều 18, Chương III, Quy định số 102-QĐ/TW nêu rõ:
Điều 18. Vi phạm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng
- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:
a) Làm trái một trong những quy định về quản lý, sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước; về thu lãi, trả lãi, thu lệ phí, hoa hồng, tiền phạt.
b) Thiếu trách nhiệm trong kiểm tra hoặc không tiến hành kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay theo quy định.
c) Thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, tái bảo lãnh, bảo lãnh mở thư tín dụng trả chậm không đúng, không đủ các điều kiện theo quy định; không trích lập, hoặc trích lập không đủ mức ký quỹ bảo lãnh theo đúng quy định.
d) Không lưu giữ đủ hồ sơ tín dụng, cho gia hạn nợ quá thời gian hoặc quá số lần theo quy định; không thực hiện đủ hoặc không đúng các điều kiện cho vay.
đ) Hủy hoại đồng tiền; từ chối nhận, lưu hành đồng tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông.
- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):
a) Huy động vốn, cho vay vốn không đúng quy định; thực hiện sai phương án, trình tự, thủ tục cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt gây thiệt hại về tài chính, tài sản của Nhà nước.
b) Cho vay ưu đãi sai đối tượng; vi phạm quy định mức vốn cho vay ưu đãi; phát hiện bên vay vốn sử dụng vốn vay sai mục đích nhưng không chấm dứt việc cho vay hoặc không thực hiện các biện pháp thích hợp để thu hồi số tiền đã cho vay.
c) Hùn vốn, liên doanh, mua cổ phần, chuyển nhượng cổ phần, trích lập các quỹ trái quy định; sử dụng các quỹ vào việc trả lãi cổ phần hoặc chuyển ra nước ngoài không đúng quy định.
d) Lập quỹ trái phép; báo cáo tài chính không trung thực, để ngoài sổ sách kế toán tài sản của đơn vị kế toán; hủy bỏ hoặc làm hư hỏng tài liệu, chứng từ kế toán trước thời hạn lưu giữ theo quy định.
đ) Thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ quy định về nghĩa vụ của các bên thế chấp và bên nhận thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vay vốn theo quy định.
e) Vi phạm quy định về tỉ giá mua, bán ngoại tệ và chi trả kiều hối. Mua, bán và thu ngoại tệ mà không có giấy phép. Cho vay, thanh toán ngoại tệ không đúng quy định.
g) Vi phạm các quy định về sản xuất, vận chuyển, mua, bán, kinh doanh vàng.
h) Thực hiện không đúng mức tiền cho vay trên giá trị tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh; nhận thế chấp, cầm cố tài sản để cho vay không đúng quy định; trốn tránh trách nhiệm trả nợ.
i) Thiếu trách nhiệm trong công tác thanh tra, giám sát ngân hàng gây hậu quả nghiêm trọng.
- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:
a) Giả mạo, khai man, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo, khai man, tẩy xóa tài liệu kế toán hoặc cố ý thỏa thuận, ép buộc người khác cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật.
b) Làm tiền giả; vận chuyển, tàng trữ, lưu hành tiền giả, vàng giả.
c) Thực hiện không đúng phạm vi, đối tượng thế chấp, cầm cố và bảo lãnh vay vốn; thực hiện không đúng, hoặc không đầy đủ các quy định về thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vay vốn ngân hàng.
d) Vi phạm quy định về cấp tín dụng cho cổ đông lớn, cổ đông sáng lập; cho vay trên thị trường liên ngân hàng, mua cổ phiếu để thôn tính ngân hàng khác.
đ) Vì lợi ích cục bộ mà có hành vi thôn tính các ngân hàng thương mại hoặc cấu kết lập ra các doanh nghiệp để cho vay từ chính các ngân hàng do mình nắm giữ hoặc có cổ phần chi phối.
e) Chỉ đạo hoặc thông đồng với cấp dưới lập hồ sơ, chứng từ khống để chiếm đoạt tiền, tài sản của Nhà nước, tổ chức và công dân.
2. Vi phạm quy định về cấp tín dụng
Điều 14 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính tỏng linch vực tiền tệ ngân hàng quy định như sau
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Lưu giữ hồ sơ cấp tín dụng không đúng quy định của pháp luật;
b) Phát hành cam kết bảo lãnh không theo hình thức mẫu do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thiết kế;
c) Không niêm yết công khai thông tin, không cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu cho khách hàng theo quy định của pháp luật.
2. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng theo quy định của pháp luật.
3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Lập hợp đồng, thỏa thuận cấp tín dụng không đủ các nội dung theo quy định của pháp luật;
b) Miễn, giảm lãi suất cấp tín dụng khi chưa ban hành quy định nội bộ; miễn, giảm lãi suất cấp tín dụng không đúng quy định nội bộ;
c) Chuyển nợ quá hạn, cơ cấu lại thời hạn trả nợ không đúng quy định của pháp luật;
d) Áp dụng lãi suất cấp tín dụng không đúng quy định của pháp luật;
đ) Thu lãi nợ quá hạn không đúng quy định của pháp luật;
e) Thu nợ khoản vay bị quá hạn trả nợ không đúng quy định của pháp luật.
4. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Thu không đúng quy định của pháp luật các loại phí liên quan đến hoạt động cấp tín dụng;
b) Sử dụng phương thức giải ngân không đúng quy định, trừ trường hợp quy định tại điểm g khoản 4 Điều 23 Nghị định này.
5. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Cấp tín dụng không có hợp đồng hoặc thỏa thuận bằng văn bản;
b) Cấp tín dụng đối với tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật;
c) Cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng;
d) Vi phạm quy định về cấp tín dụng tại khoản 3 Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng;
đ) Cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn không được cho vay theo quy định của pháp luật;
e) Ký thỏa thuận cấp bảo lãnh, cam kết bảo lãnh không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
g) Bao thanh toán đối với một hoặc một số trường hợp không được bao thanh toán theo quy định của pháp luật.
6. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Vi phạm giới hạn cấp tín dụng quy định tại các khoản 2, 4 Điều 127, các khoản 1, 2 và 8 Điều 128 Luật Các tổ chức tín dụng;
b) Cấp tín dụng dưới hình thức khác khi chưa được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận;
c) Vi phạm quy định về mức cho vay tối đa của tổ chức tín dụng khi cho vay để đầu tư ra nước ngoài.
7. Phạt tiền từ 120.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm về giới hạn và điều kiện cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu, giới hạn và điều kiện cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
8. Phạt tiền từ 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với hành vi cấp tín dụng đối với tổ chức, cá nhân quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5 và 6 Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng.
9. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc thu hồi phần số dư cấp tín dụng vượt mức hạn chế, giới hạn trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 6, khoản 7 Điều này;
b) Buộc thu hồi nợ trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm b, đ khoản 5, điểm b khoản 6, khoản 8 Điều này;
c) Buộc cổ đông lớn, cổ đông sáng lập chuyển nhượng cổ phần, vốn góp theo quy định của pháp luật trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm b, c, d khoản 5, điểm a khoản 6 Điều này;
d) Đề nghị hoặc yêu cầu cấp có thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp đình chỉ từ 01 tháng đến 03 tháng hoặc miễn nhiệm chức danh quản trị, điều hành, kiểm soát; không cho đảm nhiệm chức vụ quản trị, điều hành, kiểm soát tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với cá nhân vi phạm và/hoặc cá nhân chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 5, điểm a khoản 6, khoản 7 và khoản 8 Điều này.
Yêu cầu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cách chức và thực hiện các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật đối với cá nhân vi phạm thuộc thẩm quyền, của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
3. Nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng
Về nguyên nhân khách quan: Tình hình kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp phá sản, lao động dôi dư, tình trạng thất nghiệp tăng. Cùng với đó, số vụ vỡ nợ tín dụng đen gia tăng là nguyên nhân hình thành các băng nhóm đòi nợ thuê, xiết nợ, bắt giữ người trái pháp luật. Sự xuống cấp về đạo đức xã hội của một bộ phận người dân đáng báo động.
- Về nguyên nhân chủ quan: Công tác quản lý nhà nước về vấn đề này còn nhiều hạn chế, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, còn chồng chéo, chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm pháp luật. Còn nhiều mâu thuẫn giữa các văn bản luật hiện hành, tạo nhiều kẽ hở để những hành vi vi phạm xảy ra.
Trách nhiệm của nhiều Bộ, ngành, địa phương còn buông lỏng quản lý, thiếu tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ được giao, thiếu kiểm tra giám sát chặt chẽ, chưa quan tâm đến công tác phòng ngừa rủi ro, coi trọng kiểm tra để xử lý hơn kiểm tra để ngăn ngừa nên hậu quả xảy ra hầu hết là nghiêm trọng; có sự đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau và chưa có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ pháp luật để hỗ trợ thực hiện, nhất là trong các tình thế cấp thiết, thiếu hụt nhân lực cán bộ Ngân hàng, điều kiện thực hiện còn nhiều hạn chế.
Trách nhiệm người đứng đầu các tổ chức chưa cao, buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm trong chỉ đạo, điều hành, trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ như: Công tác phòng chống tham nhũng; Công tác dự báo tình hình, phân tích, đánh giá nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm cũng như các biện pháp phòng ngừa chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế thị trường, công nghệ thông tin và hội nhập quốc tế.
- Chưa thực sự quan tâm, công tác đào tạo, tuyển dụng, bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức phù hợp từng vị trí khả năng đáp ứng nhiệm vụ được giao;
- Chưa thực sự quan tâm đến công tác giáo dục phổ biến pháp luật nhất là các QPPL về hoạt động Tài chính - Ngân hàng về đạo đức nghề nghiệp, về nhân cách, lối sống của cán bộ công chức nhất là các thế hệ công chức, viên chức mới tuyển dụng.
4. Việc phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật
Hoạt động Tài chính - Ngân hàng đã được Quốc hội, Chính phủ, Thống đốc NHNN và các Bộ, ngành ban hành tương đối đầy đủ các QPPL như Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012 và Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012… Các văn bản hướng dẫn thực hiện áp dụng các QPPL trong phạm vi thuộc lĩnh vực do Ngân hàng Nhà nước quản lý.
Những văn bản trực tiếp liên quan đến việc xử phạt vi phạm pháp luật trong hoạt động tiền tệ, ngân hàng: Nghị định của Chính phủ số 202/2004/NÐ-CP ngày 10/12/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng và Nghị định số 95/2011/NÐ-CP ngày 10/12/2004 về sửa đổi, bổ sung một số Ðiều của Nghị định số 202. Thông tư 10/2012/TT-NHNN quy định về xử lý sau thanh tra, giám sát đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước đang nghiên cứu ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định số 202 và Nghị định số 95 nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát đối với hoạt động tiền tệ và ngân hàng, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với hệ thống các tổ chức tín dụng, các cơ quan, tổ chức khác và cá nhân trong tình hình thị trường tài chính - ngân hàng đang có những bước tiến nhanh và đa dạng như hiện nay.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn chưa hạn chế được vi phạm pháp luật xảy ra gây thất thoát lớn tiền, tài sản của nhà nước là mối quan tâm thường xuyên của các cấp lãnh đạo NHNN nhằm hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng
5. Một số hành vi vi phạm pháp luật điển hình trong lĩnh vực ngân hàng
Những hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động Ngân hàng do NHNN quản lý điển hình thuộc hoạt động tín dụng, bảo lãnh, lợi dụng chức vụ quyền hạn. Một số hành vi phát sinh:
- Cán bộ ngân hàng móc nối với đối tượng ngoài ngân hàng cố ý làm trái các quy định để hưởng lợi bất chính;
- Cán bộ ngân hàng thông đồng với các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay vốn để lập các hồ sơ giả, bảo lãnh khống… hạ chuẩn điều kiện cho vay, nâng giá trị tài sản bảo đảm tiền vay, nâng khống giá trị tài sản cho thuê nhất là hoạt động cho thuê tài chính… để rút tiền sử dụng sai mục đích như đầu tư chứng khoán, bất động sản, nhà đất… Thực tế như vụ án VINASHIN; ALCII…;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để lừa đảo, làm trái các quy định của Nhà nước nhằm chiếm đoạt tài sản.
Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê