1. Công ty trách nhiệm hữu hạn A hợp nhất với công ty cổ phần B

Công ty trách nhiệm hữu hạn A (có hai thành viên là AI và A2) hợp nhất với công ty cổ phần B (có 4 thành viên là Bl, B2, B3, và B4) tạo thành một công ty mới. Công ty mới có thể tồn tại dưới loại hình công ty ưách nhiệm hữu hạn c (gồm 6 thành viên Al, A2, B1, B2, B3, và B4), hoặc công ty cổ phần c (gồm 6 cổ đông: Al, A2, Bl, B2, B3, và B4). Điều này đã mang đến cho các doanh nghiệp có ý định hợp nhất với nhau có thêm sự lựa chọn, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (thông thường là loại hình công ty hách nhiệm hữu hạn) có thể có cơ hội tìm kiếm để phát triển cùng với các đối tác lớn, có nhiều kinh nghiệm và khả năng huy động vốn tốt hơn (chẳng hạn như loại hình công ty cổ phần) .
(Sưu tầm)

2. Để giảm rủi ro khi sáp nhập doanh nghiệp

Công ty X và Công ty Y giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo đó, X là bên mua và chưa thanh toán đầy đủ tiền hàng cho Y. Sau đó X sáp nhập vào Công ty z. Nhằm thu hồi tiền mua hàng, Công ty Y khởi kiện Công ty z. Tại tòa, đại diện của z cho rằng, X sáp nhập vào z. Khỉ nhận bàn giao thì Xcam kết tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ trước đó, X đã lừa dối z, tài sản sáp nhập đã mang thế chấp cho ngân hàng. z cho rằng số tiền Y đòi nợ z là không đúng, trách nhiệm thuộc về X, z chỉ là người có quyền lợi liên quan còn bị đơn phải là X.
Vấn đề đặt ra là bên nhận sáp nhập phải chịu trách nhiệm với chủ nợ hay không và chịu trách nhiệm như thế nào. Câu hỏi này càng trở nên quan trọng trong bối cảnh giá trị tài sản của bên bị sáp nhập không đủ để thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ, thì bên nhận sáp nhập có phải trả nợ thay không?
Hai lựa chọn trong sáp nhập
Hình dung về tình huống một cách đơn giản giống như chuyện của người làm vườn. Ông này đang có một cây (gọi tắt là cây A) cành lá xum xuê. Tuy vậy, theo thời gian, cây bắt đầu bị sâu bọ tấn công và ngày càng nhiều. Nếu trước đây, cây A còn phát triển tốt thì sẽ có cơ chế tự vệ để chống lại sâu bọ. Nhưng vì thời tiết không tốt, cây không tốt như xưa, sâu bọ trên cây thì nhiều, tự mình cây không đủ sức chống chọi lại sâu bệnh, nếu người làm vườn không xử lý kịp thời thì cây sẽ khó mà phát triển bình thường, thậm chí còn chết cây. Trong vườn, ông này có cây B, to lớn, khỏe mạnh hơn cây A. Ông này có hai lựa chọn:
Một là: Chặt cây A, mang ghép vào cây B. Lúc này, A trở thành một phần của cây B. Với quá trình ghép cây đó, người làm vườn sẽ dùng sức đề kháng của cây B để chống lại các sâu bọ trên phần cây A vừa ghép vào. Nếu quá trình này thành công, cây B sẽ phát triển hơn so với lúc trước, vì lúc này nó mang trên mình thêm cả phần cây A mà người làm vườn vừa ghép vào.
Hai là: Tách một nhánh cây từ B ra trồng riêng, gọi là cây B’. Sau đó mang cây A ghép vào cây B’ rồi mang cây B’ (lúc này đã có A trên mình) ghép lại vào cây B. Quá trình “chữa trị” hoàn tất.
Các lựa chọn của người làm vườn cũng tương tự như việc lựa chọn các hình thức pháp lý trong quá trình thôn tính một doanh nghiệp trên thị trường. Mục đích đều là mua doanh nghiệp khác trong bối cảnh doanh nghiệp bị mua đang ở trong tình trạng khủng hoảng nợ, nhưng lựa chọn khác nhau sẽ dẫn đến những hệ quả khác nhau đối với nhà đầu tư. Hình thức sáp nhập giống như lựa chọn thứ nhất cùa người làm vườn. Theo đó doanh nghiệp bị sáp nhập chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập . Khi chặt cây A mang ghép vào cây B, mặt tích cực là cây A là một phần của B, bằng sức đề kháng của mình, cây B sẽ tiêu diệt sâu bọ trên phần cây A vừa ghép vào. Tuy vậy, tại thời điểm ghép phần A vào cây B, ngoài phần cây lớn hơn (lợi ích) việc cấy ghép này cũng mang cho B cả phần sâu bọ (nguy cơ).
Lợi và hại
Nhìn từ góc độ pháp lý, doanh nghiệp nhận sáp nhập phải kế thừa các nghĩa vụ của công ty bị sáp nhập trước đó . Điều này xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của chủ nợ nhằm tránh tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng quá trình sáp nhập mà lẩn tránh nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, hệ quả là: A chấm dứt sự tồn tại, nghĩa vụ xừ lý sâu bọ được xác định là của B. Mặt khác, tài sản của A chuyển sang trở thành tài sản của B. Điểm mấu chốt của vấn đề là tài sản là của B, nghĩa vụ cũng được xác định là của B. Trong bối cảnh sâu bọ (nợ) nhiều hơn tài sản mà A chuyển sang B, thì vấn đề là B phải dùng tài sản mà mình sở hữu (không kể tài sản này từ A chuyển sang hay không) để trả nợ.
Nhìn từ góc độ của nhà đầu tư, hoạt động sáp nhập như trên chứa đựng rủi ro lớn. Từ đó, một yêu cầu đặt ra phải có giải pháp để một mặt B vẫn mua được A nhưng mặt khác, B không phải trả nợ thay cho A trong trường hợp giá trị tài sản của A không đủ thanh toán. Lựa chọn thứ hai của người làm vườn có thể đáp ứng khía cạnh này. Cơ sở cho lựa chọn này chính là chế độ trách nhiệm hữu hạn của pháp nhân. Theo đó, các chủ nợ không có quyền đòi nợ cổ đông, vì họ không có nghĩa vụ trả nợ thay cho A. Vì thế, để tiến hành thương vụ, trước hết B chuyển một phần tài sản của mình thành lập công ty con là B’. Sau đó, B’ sẽ mua A. Điều này cũng tương tự như khi ghép A vào cây B’ của người làm vườn. Khi tiến hành thương vụ theo “đường vòng” như vậy có hai cái lợi:
Thứ nhất: Nếu “sâu bọ” quá nhiều, cùng lắm là chi làm chết A và B’, cây B đang ở ngoài cuộc cấy ghép nên sâu bọ không lan qua được.
Thứ hai: Quá trình chuyển hóa từ phần cây A vào B luôn kéo theo những sự xáo trộn nhất định. Với việc dùng B’ để mua A, B đã tránh những sự xáo trộn không cần thiết trong quá trình tiếp nhận A. Tất cả những xáo trộn (nếu có) sẽ do B’ xử lý.
Sau khi B’ đã xử lý xong phần sâu bọ của A và bảo đảm sự ổn định sau sáp nhập, việc còn lại là B hoặc là tiếp tục sáp nhập B’ hoặc đơn giản là để B’ hoạt động một cách độc lập.
Trở lại câu chuyện ở trên, dẫu khi bàn giao Công ty X cam kết tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ trước đó, nhưng cam kết này lại không có giá trị, mọi quyền lợi và nghĩa vụ sẽ chuyển giao cho bên nhận sáp nhập. Việc chối bỏ trách nhiệm của z như trên là không hợp lý.
Có nhiều cách thức để các bên lựa chọn trong các thưomg vụ sáp nhập doanh nghiệp. Nhìn từ góc độ của doanh nghiệp nhận sáp nhập, yêu cầu đặt ra là quá ưình sáp nhập phải bảo đảm: (i) Giảm thiểu rủi ro và (ii) Bảo đàm hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Với cách thức sáp nhập một cách trực tiếp được tiến hành phổ biến như hiện nay thì chưa đáp ứng được yêu cầu trên. Do đó, lựa chọn phù hợp cho các bên là nên tiến hành sáp nhập bằng cách thành lập một công ty con. Công ty này chỉ có nhiệm vụ duy nhất là mua công ty tiềm năng. Việc thành lập công ty con giúp các bên tránh được những rủi ro như phân tích ở trên.
Theo nguồn: Phạm Hoài Huấn: Đổ giảm rủi ro khi sáp nhập doanh nghiệp, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 04-9-2014.

3. Cổ đông trong công ty cổ phần?

Công ty cổ phần Thiên Phúc có 05 cổ đông (A, B, c, D, E), mỗi cổ đông đều nằm giữ số cổ phần tương ứng với 20% vốn điều lệ của công ty. Công ty này kinh doanh hai lĩnh vực: thức ăn và nước uống giải khát. Trong quá trình kinh doanh, vì quy mô lớn, nhiều ngành, nghề khác nhau nên các cổ đông đã xảy ra mâu thuẫn và không muốn cùng nhau làm ăn chung, các cố đông muốn chia nhỏ công ty để giải quyết mâu thuẫn. Khi này, 05 cổ đông tạo thành hai nhóm:
- Nhóm 1 gồm các cổ đông A, B và c muốn chuyên kinh doanh thức ăn;
- Nhóm 2 gồm D và E muốn chuyên kinh doanh nước uống giải khát.
Khi này, dưới hiệu lực của Luật doanh nghiệp năm 205, công ty thứ nhất do các cổ đông nhóm 1 phải là công ty cổ phần (cùng loại với Công ty cổ phần Thiên Phúc), nhưng các cổ đông này lại muốn hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Còn đối nhóm cổ đông 2 lại không thể hoạt động dưới loại hình công ty cổ phần vì không đủ số lượng cổ đông tối thiểu. Nguyện vọng của các cổ đông không được đáp ứng.
Tuy nhiên, với quy định mới của Luật doanh nghiệp năm 204, Công ty cổ phần Thiên Phúc có thể chia hoặc tách thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần tùy theo nhu cầu, nguyện vọng của các cổ đông.
(Sưu tầm)

4. Lợi nhuận trong công ty trách nhiệm hữu hạn?

Dương, Thành, Trung và Hải thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Thái Bình Dương kinh doanh xúc tiến xuất khẩu. Công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với vốn điều lệ 5 tỷ đồng. Trong thỏa thuận góp vốn do các bên ký, Dương cam kết góp 800 triệu đồng bằng tiền mặt (16% vốn điều lệ), Thành góp vốn bằng giấy nhận nợ cùa Công ty Thành Mỹ (dự định sẽ là bạn hàng chủ yếu của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thái Bình Dương), tổng số tiền trong giấy ghi nhận nợ là 1,3 tỷ đồng; giấy nhận nợ này được các thành viên nhất trí định giả là 1,2 tỷ đồng (24%). Trung góp vốn bằng ngôi nhà của mình, giá trị thực tế vào thời điểm góp vốn chỉ khoảng 700 triệu đồng, song do có quy hoạch mở rộng mặt đường, nhà cùa Trung dự kiến sẽ ra mặt đường, do vậy các bên nhất trí định giá ngôi nhà này là 1,5 tỷ đồng (30%). Hải cam két góp 1,5 tỷ đồng bằng tiền mặt (30%), song mới tạm góp 500 triệu đồng. Các bên thỏa thuận khi nào công ty cần, Hải sẽ góp tiếp 1 tỷ đồng còn lại. Các bên thông qua bản Điều lệ, quy định Thành giữ chức Giám đốc, Hải giữ chức Chủ tịch Hội đồng thành viên. Người đại diện theo pháp luật là Giám đốc công ty.
Sau một năm hoạt động, công ty có lãi ròng là 800 triệu đồng, song bốn thành viên không thống nhất được cách phân chia lợi nhuận. Hài khởi kiện ra tòa đòi hưởng 50% số lợi nhuận vì cho rằng phần vốn góp của mình chiếm 50% số vốn thực tế của công ty. Trên thực tế, Dương đã góp 800 triệu đồng bằng tiền mặt; giá trị thực tế của nhà đất mà Trung đã góp khoảng 700 triệu đồng. Theo tính toán của Hải, việc góp vốn bằng giấy ghi nợ của Thành là bất hợp pháp, mặc dù Công ty Thành Mỹ đã thanh toán cho Công ty Thái Bình Dương khoảng 600 triệu đồng trước khi lâm vào tình trạng vỡ nợ.
Theo nguồn: Tổ công tác thỉ hành Luật doanh nghiệp

5. Tranh chấp liên quan đến người đại diện trước pháp luật và con dấu của công ty ?

Một vụ kiện xảy ra ở Đồng Nai, theo đó, một người được Tòa án tuyên là có quyền quản lý công ty nhưng trong bản án lại không đề cập chuyện bàn giao lại con dấu cho người đó. Do đó, Cơ quan thi hành án chi thi hành việc bàn giao lại công ty cho người quản lý mà không thực hiện việc thu hồi con dấu để bàn giao với lý do tòa án... không tuyên! Kết quả là người này không thực hiện được việc quản lý của mình vì không có con dấu.
Câu chuyện trên đề cập hai vấn đề: Một là, người đại diện công ty và hai là, con dấu của công ty. Pháp luật về công ty đã sử dụng hình ảnh pháp nhân (ở đây pháp nhân hay công ty được sử dụng với cùng một nghĩa) làm xuất phát điểm cho các vấn đề có liên quan. Công ty là một “con người” do pháp luật tạo nên, độc lập với ông chủ đã bỏ tiền để tạo ra nó. Pháp luật về công ty phải được áp dụng bởi vì các ông chủ của công ty có quá nhiều mối quan hệ phức tạp với nhiều khoản chi tiêu khác nhau. Các tài sản của ông chủ về cơ bản được chia làm hai nhóm: tài sản tiêu dùng và tài sản đầu tư. Chi ông chủ mới biết ông ta đang tiêu tiền của mình hay là tiền mà ông mang đi đầu tư. Cũng vì lẽ đó mà pháp luật về công ty mới buộc ông phải tách bạch tài sản tiêu dùng và tài sản đầu tư. Để bảo đảm rằng khối tài sản mà ông chủ đầu tư không bị mất mát và bị tranh đoạt bởi người khác, pháp luật về công ty đã sử dụng khái niệm “pháp nhân” nhằm giải quyết vấn đề này. Theo đó, một “con người” tưởng tượng ra đời, được quy ước rằng sẽ sở hữu phần tiền mà ông chủ đã mang đi đầu tư và chỉ chi tiêu khoản tiền này vào một mục đích duy nhất là kinh doanh. “Con người” công ty này về đại thể, khác ông chù của nó ở các điểm sau: (i) “Con người” công ty cũng có tài sản giống ông chủ nhưng tài sản này chỉ dùng vào một mục đích duy nhất là kinh doanh mà không chi tiêu vì những lý do khác như ông chủ; (ii) “Con người” công ty có nhiều mối quan hệ, nhưng các mối quan hệ này suy cho cùng cũng chi phục vụ cho mục đích kinh doanh của nó mà thôi.
Mặc dù pháp luật về công ty quy định cho công ty có quyền sở hữu, nhưng cái mà “con người” công ty sở hữu có nguồn gốc tài sản của ông chủ. Tức là, nhiệm vụ của công ty là làm cái việc “phân thân” phần kinh doanh của ông chủ ra khỏi phần sinh hoạt bình thường.
Cho nên, về mặt lý thuyết thì có thể tưởng tượng được “con người” công ty. Nhưng khi đối mặt với các hoạt động thực tế thì “con người” công ty mang tính ước lệ kia lại không đi lại, nói năng gì được. Để giải quyết vấn đề này, pháp luật về công ty đã xây dựng nên khái niệm “đại diện”. Do đó, một con người (con người bằng xương bằng thịt, còn gọi là “tự nhiên nhân”, “thể nhân” để phân biệt với “người pháp lý” là pháp nhân) sẽ thay mặt cho công ty để tiến hành các hoạt động cần thiết. Nói một cách hình tượng, mối quan hệ giữa người đại diện và công ty cũng giống như mối quan hệ giữa người ngồi đồng và các vị thần. Đã gọi là thần thánh thì người trần mắt thịt không thể nhìn thấy được nên thần thánh có nói gì mình cũng không nghe được. Giải pháp là: thần sẽ nhập vào xác phàm của người ngồi đồng, mượn cái thân xác trần tục kia để phát ngôn những lời thần thánh (!).
Trên thực tế, thì mọi hoạt động của công ty đều phải thông qua người đại diện. Nhưng tới đây lại nảy sinh thêm rắc rối khác. Bởi vì, người đại diện của công ty dường như đang mang trong mình hai tư cách: Một là, chính bản thân anh ta; hai là, đại diện cho công ty. Vậy thì lúc nào anh ta phát ngôn, làm những việc với tư cách cá nhân và lúc nào là nhân danh công ty? vấn đề này cần được làm rõ. Bởi vì, biết đâu người đại diện sẽ lợi dụng sự mập mờ không rõ ràng này mà làm những việc sai trái (ngôn ngữ luật hiện đại gọi là “vượt quá phạm vi đại diện”) hoặc có thể làm cho những người có liên quan có cảm giác không tin tưởng. Đây là lúc con dấu của công ty phát huy vai trò. Mỗi công ty đêu có một con dấu. Các giấy tờ giao dịch của công ty phải đóng dấu của công ty. Con dâu của công ty giống như chiếc khăn đỏ mà người ngồi đồng đội trên đầu. Chiếc khăn này làm cho những người mê tín dị đoan đang cầu xin thần thánh kia tin rằng người ngồi đồng nếu có nói gì trong lúc này thì cũng là lời của thần thánh phán chứ không phải lời của anh ta. Pháp luật quy định: “Con dấu thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ quan, tổ chức” là như vậy.
Từ đây, pháp luật vê công ty cần phải làm thêm một việc nữa để hoàn chỉnh cho ý niệm “con người” công ty là quy định mối quan hệ giữa người đại diện và con dấu. Theo đó, vai trò của người đại diện là thay mặt cho công ty. Cụ thể người này nói gì, làm gì sẽ được mặc nhiên hiểu là công ty đang nói, đang làm. Sau này công ty không được bác bỏ. Nhưng để tránh sự nhập nhằng về tư cách cá nhân và tư cách thay mặt cho công ty khi nhân danh công ty, các giấy tờ giao dịch mà người đại diện ký phải thể hiện rõ là họ đang thay mặt công ty và phải đóng dấu của công ty. Thiếu một trong hai yếu tố trên đều không được. Người không có quyền đại diện mà ký tên và đóng dấu vào văn bản thì cũng không có ý nghĩa gì. Người đại diện ký tên phát hành các văn bản mà không đóng dấu của công ty thì các bên liên quan sẽ không thừa nhận, sẽ nghi ngờ về tư cách đại diện của người đó . Cho nên, tốt nhất là phải có cả hai. Từ mối quan hệ giữa người đại diện và con dấu nên luật quy định người đại diện thì quản lý con dấu: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải chịu ưách nhiệm quản lý sử dụng con dấu theo quy định của pháp luậf (Điều 36 Luật doanh nghiệp năm 205).
Trở lại câu chuyện ở trên: Người được giao quyền đại diện quản lý công ty thì không có con dấu mà người không có quyền đại diện thì lại giữ con dấu. Tất nhiên, người giữ con dấu không thể làm gì được với con dấu kia, nhưng điều trái ngang là họ vẫn cứ muốn giữ. Điểm vô lý của bản án là ở chỗ, quyền quản lý, đại diện về mặt pháp lý luôn gắn liền với con dấu. Sự sai sót không đáng có này làm cho mối quan hệ bị “đứt đoạn”. Điều này cũng giống như giao cho một người cái thẻ ATM nhưng lại đưa mật khẩu cho người khác. Kết quả là cả hai đều không rút được tiền.Trong công tác thi hành án, cơ quan thi hành án đã lựa chọn một giải pháp “khôn ngoan” với lý lẽ Tòa án không tuyên nên không thi hành. Nhưng nếu nhìn nhận một cách khách quan thì câu trả lời này chưa đủ thuyết phục. Bởi vì, trong các quyền của người đại diện thì còn bao hàm cả quyền quản lý và sử dụng con dấu được pháp luật ghi nhận. Việc thi hành bản án về bàn giao quyền quản lý công ty mà không bao gồm cả con dấu là một việc làm phiến diện!
Người đại diện có quyền yêu cầu cấp con dấu mới khi con dấu của công ty bị mất. Nhưng vấn đề là con dấu trong trường hợp này không bị mất. Do đó, việc thông báo mất con dấu và xin cấp lại con dấu khác chưa hẳn sẽ được chấp thuận từ phía co quan công an.
Theo nguồn: Phạm Hoài Huấn: Người đại diện và con dấu của công ty, Báo Diễn đàn doanh nghiệp, ngày 11-10-2011.
vì SAO NÊN BỎ TỘI KINH DOANH TRÁI PHÉP?
Trả lời phóng viên Báo Tuổi trẻ về nội dung này, TS. Trần Văn Dũng, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự - hành chính Bộ Tư pháp, phân tích:
“Tiêu chí chung để phi tội phạm hóa là do có sự thay đổi mà hành vi nào đó không còn tính nguy hiểm cho xã hội hoặc mức độ nguy hiểm cho xã hội giảm xuống, đã có biện pháp khác xử lý mà không cần thiết phải xử lý hình sự.
Với tội kinh doanh trái phép được quy định tại Điều 159 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì chúng ta thấy rằng Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rõ tư tưởng tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc người dân, doanh nghiệp được đầu tư, kinh doanh những gì pháp luật không cấm. Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp được Quốc hội thông qua năm 204 đã thể hiện rõ tư tưởng này.
Doanh nghiệp chi cần đăng ký kinh doanh rồi tự do lựa chọn ngành, nghề kinh doanh mà không cần phải xin phép, ghi vào giấy phép ngành, nghề, lĩnh vực cụ thể như trước đây.
Hơn nữa, những lĩnh vực cấm kinh doanh đã được quy định tại một số điều luật cụ thể của Bộ luật hình sự (buôn bán, vận chuyển hàng cấm; sản xuất, buôn bán, vận chuyển ma túy, chất hướng thần; buôn bán người...)”.
Như vậy, điều luật quy định về tội kinh doanh trái phép không còn cơ sở để tồn tại.
Theo nguồn: http://tuoitre.vn/tin/phap-luat/20150404/vi-sao- bo-toi-kinh-doanh-trai-phep/729521.html, truy cập ngày 26-4-2015.