1. Mặt khách quan của cấu thành tội phạm ?

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm. Bất kỳ tội phạm nào cũng được thể hiện ra bên ngoài, phản ánh trong thế giới khách quan. Mặt khách quan của tội phạm có những dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả tác hại do hành vi đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả tác hại, thời gian, địa điểm, phương pháp, phương tiện và công cụ thực hiện tội phạm.

Trong số các dấu hiệu của mặt khách quan, dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc phải có ở mọi tội phạm. Nếu không có hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không có tội phạm, vì vậy Điều 8 Bộ luật Hình sự quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ có hành vi nguy hiểm cho xã hội mới gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ. Hành vi nguy hiểm cho xã hội là cách xứ sự nguy hiểm của chủ thể, xâm phạm các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ. Hành vi ấy bị Luật Hình sự cấm. Hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bằng phương pháp hành động hoặc bằng phương pháp không hành động. Hành vi được thực hiện bằng phương pháp hành động là trường hợp chủ thể làm một việc mà Luật Hình sự đã có quy định cấm. Phần lớn các tội phạm cụ thể quy định trong Bộ Luật Hình sự được thực hiện bằng hương pháp hành động. Hành vi nguy hiểm cho xã hội còn được thực hiện bằng phương pháp không hành động. Đây là trường hợp chủ thể có nghĩa vụ thực hiện một hoạt động nhất định nhưng họ đã không thực hiện nghĩa vụ trong khi có điều kiện thực hiện nghĩa vụ đó. Điển hình là hành vi trốn thuế, trốn tránh nghĩa vụ quân sự, thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước, thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn...v.v Để truy cứu trách nhiệm hình sự với người thực hiện tội phạm bằng phương pháp không hành động phải làm rõ được: Người phạm tội phải là người có trách nhiệm, nghĩa vụ do pháp luật quy định về công việc chuyên môn của mình, người phạm tội có điều kiện thực hiện nghĩa vụ nhưng họ đã không thực hiện nghĩa vụ ấy.

.Tư vấn Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự

Luật sư tư vấn Luật Hình sự gọi: 1900.6162

Hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có đặc điểm chung giống nhau là tính chất nguy hiểm, tính chất do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện xâm phạm đến quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ. Tội phạm trong Bộ luật Hình sự rất đa dạng nên hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đa dạng. Có hành vi nguy hiểm mang tính chất đơn lẻ, để thực hiện tội phạm người phạm tội chỉ cần thực hiện một hành vi do pháp luật quy định. Có hành vi nguy hiểm cho xã hội mang tính chất tội ghép, để thực hiện tội phạm người phạm tội phải thực hiện nhiều hành vi, nói cách khác tội ghép là tội được thực hiện bằng nhiều hành vi như tội cướp tài sản. Người phạm tội cướp tài sản thực hiện một lúc hai hành vi: dùng vũ lực, hoặc đe dọa dùng vũ lực, hoặc dùng thủ đoạn khác và hành vi thư hai là chiếm đoạt tài sản. Có hành vi nguy hiểm mang tính chất liên tục được gọi là tội liên tục. Đây là trường hợp người phạm tội thực hiện hàng loạt hành vi phạm tội cùng loại, mỗi hành vi phạm tội có tính chất nhỏ lẻ, nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, tuy nhiên khi gộp lại toàn bộ các hành vi, thì tội phạm có mức độ nguy hiêm cho xã hội đáng kể. Trong thực tế, đấu tranh chống tội phạm cũng như quy định của Bộ luật Hình sự còn có hành vi kéo dài gọi là tội kéo dài như tội trốn khỏi nơi giam giữ, tội tàng trữ vũ khí trách phép, tàng trữ các chất ma túy. Tội phạm chỉ chấm dứt khi bị phát hiện hoặc người phạm tội tự thú.

Hậu quả tác hại của tội phạm là một trong các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm , là thiệt hại do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra cho quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ, gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần. Thiệt hại vật chất là những thiệt hại đo đếm, xác định được mức độ nhất định như chết người, gây thương tích với tỷ lệ % tổn hại sức khỏe, thiệt hại tài sản được quy ra bằng tiền v.v... Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại khác mà không xác định được lượng mức độ thiệt hại như tội vu khống, tội làm nhục người khác, tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội v.v.

Hậu quả tác hại có ý nghĩa quan trọng để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm. Hậu quả tác hại càng lớn thì mức độ nguy hiểm của tội phạm càng cao. Hậu quả tác hại của tội phạm có ý nghĩa xác định giai đoạn hoàn thành của tội phạm. Tội có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành khi hành vi nguy hiểm đã gây ra hậu quả tác hại. Tội có cấu thành hình thức được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội theo quy định của điều luật cụ thể trong Bộ luật Hình sự.

Dấu hiệu thời gian, địa điểm trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm chỉ ra rằng tội phạm có thật ở thời gian, địa điểm nhất định. Đây là một trong những vấn đề buộc phải chứng minh trong vụ án hình sự. Phần lớn các tội phạm trong Bộ luật Hình sự không quy định thời gian, địa điểm, nên dù tội phạm xảy ra trong thời gian nào hoặc địa điểm bất kỳ nào đều không ảnh hưởng đến việc định tội. Trừ những tội phạm cụ thể của Bộ Luật Hình sự có quy định thời gian, địa điểm, thì thời gian, địa điểm là dấu hiệu đặc trưng, bắt buộc phải có để định tội như tội hoạt động phỉ phải ở rừng núi hoặc vùng hẻo lánh, tội buôn lậu phải có địa điểm là qua biên giới, tôi làm chết người trong khi thi hành công vụ phải có thời gian là đang thi hành công vụ v.v...

Phương pháp, công cụ thực hiện tội phạm là một trong những dấu hiệu khách quan. Phần lớn các tội trong Bộ luật Hình sự không quy định phương pháp, công cụ là dấu hiệu đặc trưng để định tội, nên trường hợp này dấu hiệu phương pháp, công cụ không phải là dấu hiệu bắt buộc. Tuy nhiên trong Bộ luật HÌnh sự có một số tội phạm quy định phương pháp, công cụ của tội phạm là dấu hiệu đặc trưng để định tội như điểm a, khoản 1 Điều 104: dùng hung khí nguy hiểm gây thiệt hại cho nhiều người; điểm a khoản 1 Điều 93 quy định giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người v.v. Như ậy, dấu hiệu phương pháp, công cụ của tội phạm là một trong các dấu hiệu phải được chứng minh trong vụ án hình sự, tuy nhiên, để định tội cần tuân theo quy định của các điều luật.

Tóm lại mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, có các dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho xã hội; dấu hiệu hậu quả tác hại, dấu hiệu quan hệ nhân quả, dấu hiệu thời gian, địa điểm, phương pháp, công cụ phạm tội.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn trình báo công an mới nhất năm 2020, Cách viết đơn trình báo

2. Như thế nào là cấu thành tội phạm tăng nặng ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em trai tôi có thực hiện hành vi giật đồ của người đi đường nhưng là lần đầu tiên thực hiện hành vi này. Trong lúc dự phiên tòa, tôi có nghe thông tin là em tôi cấu thành tội phạm tăng nặng do số tài sản khi thực hiện hành vi giật đồ là 62.500.000 đồng, như vậy có đúng không ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Mỗi trường hợp phạm tội cụ thể của loại tội nhất định phải có những nội dung biểu hiện riêng biệt ở cả bốn yếu tố: khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan. Các loại tội phạm có cách biểu hiện loại tội phạm, phương thức phạm tội, công cụ phạm tội,… nhưng tất cả các trường hợp phạm tội của tội phạm nhất định giống nhau ở cả bốn yếu tố. Những biểu hiện giống nhau đó được coi là những dấu hiệu chung có tính đặc trưng của tội phạm nhất định. Khi quy tội phạm trong luật các nhà làm luật phải sử dụng các dấu hiệu này để mô tả tội phạm, và sự mô tả này được gọi là cấu thành tội phạm.

Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự. Tùy theo mục đích mà các nhà làm luật hướng đến mà cấu thành tội phạm được chia làm cách là dựa vào mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội được cấu thành tội phạm phản ánh và phân loại theo đặc điểm cấu trúc của tội phạm. Để phù hợp với yêu cầu của đề bài em chỉ phân tích phân loại của cấu thành tội phạm thứ nhất tức là theo mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội được cấu thành tội phạm phản ánh. Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa cấu thành tội phạm thành ba loại:

- Cấu thành tội phạm cơ bản là cấu thành tội phạm chỉ có dấu hiệu định tội - dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội này với tội khác.

- Cấu thành tội phạm tăng nặng là cấu thành tội phạm mà ngoài dấu hiệu định tội còn xem them dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể ( so với trường hợp bình thường ).

- Cấu thành tội phạm giảm nhẹ là cấu thành tội phạm mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội giảm xuống một cách đáng kể ( so với trường hợp bình thường ).

Để làm rõ về tính nguy hiểm cho xã hội trong hành vi cướp giật tài sản của em trai chị làm rõ tại khoản 1 Điều 171 và khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“ Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm ”

Theo điều khoản này quy định dấu hiệu định tội là người nào cướp giật tài sản của người khác, xét theo ba loại cấu thành tội phạm thì đây thuộc loại cấu thành tội phạm cơ bản vì trong khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định dấu hiệu định tội của loại tội phạm. Loại tội phạm mà em trai của chị thực hiện là tội cướp giật tài sản nhưng lại có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 bởi vì tài sản K trộm cắp có giá trị là 62.500.000 triệu đồng, với số tiền này hành vi của em trai của chị gây ra có thiệt hại nghiêm trọng hơn so với hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng. Trường hợp phạm tội của em trai của chị được quy định trong điểm c khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015:

“ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đến dưới hai trăm triệu đồng”.

Khi hành vi phạm tội đã thỏa mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm tăng nặng thì khung hình phạt sẽ chuyển từ khung hình phạt bình thường sang khung hình phạt tăng nặng. Tội cướp giật tài sản thỏa mãn khung hình phạt bình thường khi người phạm tội thực hiện hành vi được quy định trong khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015 thì sẽ bị phạt tù từ một đến năm năm. Cướp giật tài sản mà thỏa mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm tăng nặng trong khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015 thì sẽ bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Vì vậy có thể khẳng định hành vi phạm tội của em trai chị thuộc cấu thành tội phạm tăng nặng theo điểm c khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015.

>> Xem thêm:  Ý nghĩa của việc nghiên cứu cấu thành tội phạm là gì ?

3. Quy định đối với tội cố ý gây thương tích?

Thưa luật sư, Anh (chị) cho e hỏi câu này với ạ: " Do có mâu thuấn với Q, G 15 tuổi 6 tháng (có năng lực trách nhiệm hình sự) đã dùng dao nhọn đâm Q nhiều nhát gây thương tích cho Q. Cơ quan giám định pháp y kết luận thương tích mà G gây ra cho Q là 65%. Hành vi phạm tội của G được quy định tại khoản 3 điều 134 BLHS".
Hỏi: Vụ việc trong trường hợp trên được xử lý như nào?
Em cảm ơn anh chị nhiều!

>> Luật sư tư vấn hình sự về cấu thành tội phạm, gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Luật Minh Khuê xin được giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

+ Chủ thể thực hiện tội phạm: G (15 tuổi, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự)

+ Hành vi: Dùng dao nhọn đâm nhiều nhát

+ Khách thể: Xâm phạm đến sức khỏe của Q

Trong trường hợp này, theo cơ sở bạn cung cấp, không rõ các thông tin về việc G đã dùng dao đâm vào những vị trí như nào, có phải vị trí trọng yếu trên cơ thể hay không. Bên cạnh đó, có thể trường hợp này đã có thông tin về quyết định khởi tố vụ án hình sự nên bạn cũng nắm được thông tin về việc G bị xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 134 - về tội cố ý gây thương tích chứ không bị xác định là hành vi nhằm tước đi tính mạng của tội giết người.

Theo đó, khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này

Do đó, có thể thấy, thực tế G sẽ bị truy tố do thuộc điểm d, khoản 4 Điều 134, mặc dù tỷ lệ là 65% nhưng G còn dùng cả hung khí là tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 134. Vì vậy, hình phạt mà G phải chịu theo khung phạt tù từ 07 năm đến 14 năm.

Mặc dù G mới 15 tuổi nhưng theo quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì G vẫn phải chịu trách nhiệm đối với tội danh này.

>> Xem thêm:  Bên mua cướp xe đi bán khi xe đang có tranh chấp và chờ Tòa án giải quyết ?

4. Quan hệ nhân quả của cấu thành tội phạm là gì ?

Theo quan điểm duy vật biện chứng, quan hệ nhân quả là quan hệ khách quan được hình thành bằng sự tác động giữa các hiện tượng làm nảy sinh hiện tượng mới, hiện tượng mới gọi là hậu quả, sự tác động giữa các hiện tượng là nguyên nhân làm nảy sinh hiện tượng mới.

Luật Hình sự không đặt ra quan hệ nhân quả, mà sử dụng cặp phạm trù triết học duy vật biện chứng về nguyên nhân và hậu quả. Trong Luật Hình sự quan hệ nhân quả là quan hệ giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra trong khi hành vi nguy hiểm cho xã hội phải xảy ra trước hậu quả tác hại về mặt thời gian, phải là nguyên nhân tất yếu gây ra hậu quả tác hại.

Quan hệ nhân quả trong yếu tố khách quan của cấu thành tội phạm là gì? Có ý nghĩa gì ?

Luật sư tư vấn Luật Hình sự gọi: 1900.6162

Đặc điểm quan hệ nhân quả là:

- Quan hệ nhân quả là quan hệ khách quan, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người.

- Hành vi là nguyên nhân gây ra hậu quả tác hại của tội phạm phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy phải được Luật Hình sự quy định trong điều luật thuộc phần tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự, phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý.

- Hành vi nguy hiểm cho xã hội phải xảy ra trước hậu quả tác hại về mặt thời gian.

- Hành vi nguy hiểm cho xã hội phải là nguyên nhân tất yếu dẫn đến hậu quả tác hại nói trên. Một hậu quả có thể do nhiều nguyên nhân thứ yếu, vì vậy hậu quả tác hại phải là sự tất yếu của hành vi nguy hiểm.

Quan hệ nhân quả là dấu hiệu bắt buộc ở những tội có cấu thành vật chất. Khi có hậu quả vật chất xảy ra, người có thẩm quyền phải xác định được hành vi nào là nguyên nhân chủ yếu rây ra hậu quả tác hại của tội phạm để xử lý đúng người, đúng tội. Quan hệ nhân quả có ý nghĩa bảo đảm tính khách quan trong xử lý tội phạm, có tác dụng định hướng điều tra vụ án hình sự, tìm ra thủ đoạn, công cụ phạm tội, xác định đung người thực hiện tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội.

>> Xem thêm:  Tư vấn về hành vi biền thủ công quỹ của nhân viên kinh doanh ?

5. Cấu thành tội phạm công nhiên chiếm đoạt và cướp tài sản ?

Thưa luật sư, xin hỏi: A và M là người yêu đã chia tay, một lần gặp M ở dọc đường A yêu cầu M vào nhà nghỉ với hắn, M không đồng ý bị A đánh đập, giật điện thoại, túi xách và bỏ đi. Tổng giá trị tài sản là 7tr đồng. Hành vi của A cấu thành tội cướp tài sản hay công nhiên chiếm đoạt tài sản ? Xin cảm ơn!

Cấu thành tội phạm công nhiên chiếm đoạt và cướp tài sản ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Để biết được hành vi của A là công nhiên chiếm đoạt tài sản hay là tội cướp tài sản, bạn cần xem xét đến cấu thành tội phạm để xác định. Theo đó, chúng tôi sẽ xác định cho bạn dựa trên quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017như sau:

Thứ nhất, về tội cưới tài sản:

Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm

Cấu thành tội phạm như sau:

Chủ thể

Người đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự (từ đủ 14 tuổi trở lên, không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình).

Khách thể

- Các quan hệ về tài sản và quan hệ nhân thân.

- Khách thể bị xâm phạm trước là quan hệ nhân thân, thông qua đó người phạm tội xâm phạm khách thể là quan hệ tài sản.

Mặt khách quan của tội phạm

- Hành vi dùng vũ lực: Là hành vi mà người phạm tội đã thực hiện, dùng sức mạnh vật chất tác động vào cơ thể của nạn nhân là con người (như: đấm, đá, bóp cổ, trói, bắn, đâm, chém….) để chiếm đoạt tài sản. Hành vi này có thể khiến nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại sức khỏe hoặc tử vong, nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích đáng kể.

- Hành vi đe dọa sử dụng vũ lực ngay tức khắc: Là hành vi dùng lời nói hoặc hành động nhằm đe dọa người bị hại nếu không đưa tài sản thì hành động vũ lực sẽ được thực hiện ngay (như dí dao vào cổ đe dọa người bị hại giao nộp tài sản nếu không sẽ bị đâm).

Lưu ý: Đe dọa dùng vũ lực là chưa dùng vũ lực, nếu người phạm tội vừa đe dọa, vừa sử dụng vũ lực với người bị hại thì vẫn bị coi là dùng vũ lực.

- Hành vi làm người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được: Là hành vi không dùng vũ lực, không đe dọa sử dụng vũ lực nhưng làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được (như đánh thuốc mê người bị hại, khiến người bị hại không thể chống cự được và sau đó cướp tài sản)

* Hậu quả của tội phạm

- Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm

- Nếu hậu quả xảy ra là thiệt hại về tính mạng thì cần phân biệt các trường hợp:

+) Người phạm tội giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội : tội giết người và tội cướp tài sản

+) Nếu người phạm tội không có ý định giết người mà chỉ có ý định cướp tài sản nhưng chẳng may nạn nhân bị chết thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản với tình tiết làm chết người

+) Nếu sau khi cướp tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà giết người để tẩu thoát thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự cả về tội giết người

- Nếu hậu quả xảy ra là thiệt hại về sức khỏe thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản với tình tiết gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nếu bị hại có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên.

- Nếu hậu quả xảy ra là thiệt hại về nhân phẩm, danh dự mà hành vi xâm phạm của người phạm tội không có liên quan gì đến mục đích chiếm đoạt thì ngoài tội cướp tài sản, người phạm tội còn bị truy cứu về các tội phạm tương ứng với hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm.

Mặt chủ quan của tội phạm

- Lỗi cố ý

- Mục đích chiếm đoạt tài sản

Thứ hai, về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản:

Điều 172. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

Cấu thành tội phạm:

Chủ thể

- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 137 Bộ luật hình sự thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 137 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

Khách thể

Quan hệ về tài sản (quân hệ sở hữu)

Nếu xâm phạm đến quan hệ nhân thân thì có thể bị truy cứu them về tội phạm khác (tội cố ý giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…)

Mặt khách quan của tội phạm:

- Hành vi chiếm đoạt tài sản công khai, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng hoàn cảnh khác như thiên tai,, hỏa hoạn, chiến tranh… (khác với tội cướp giật ở chỗ không cần sự nhanh chóng)

- Hậu quả: người phạm tội chiếm đoạt được tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên, nếu tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm mới thì mới cấu thành tội phạm.

Mặt chủ quan của tội phạm:

- Lỗi cố ý

- Mục đích chiếm đoạt tài sản

-> Dựa theo cấu thành tội phạm trên, có thể xem xét hành vi của A là cướp tài sản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hành vi nhổ cây ở vỉa hè bị xử phạt như thế nào ?