1. Mẫu Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động

Công ty luật Minh Khuê cung cấp mẫu Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động - Thông tin chi tiết vui lòng liên hệ 1900.1975 để được tư vấn, trực tiếp:

.Mẫu Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động

Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7) gọi: 1900.1975

---------------------------------------------

CÔNG TY .... CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
*** Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:_/20.../QĐ-... --------o0o--------

địa danh, ngày ___ tháng __ năm


QUYẾT ĐỊNH

VV:
Chấm dứt hợp đồng lao động


--------------------

GIÁM ĐỐC/TỔNG GIÁM ĐỐC CÔNG TY CP/TNHH ABCD

- Căn cứ Bộ Luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được sửa đổi, bổ sung năm 20....;

- Căn cứ Hợp đồng lao động số ...........................................;

- Căn cứ Quyết định ..............................................................;

- Căn cứ Quyết định xử lý vi phạm/bản án số của ........., đối với Ông Nguyễn Văn A;

- Theo đề nghị của Phòng Tổ chức & Nhân sự.


QUYẾT ĐỊNH

Điều 1:Nay chấm dứt hợp đồng lao động với Ông Nguyễn Văn A, là cán bộ/công nhân viên thuộc phòng:
............................................................................
............................................................................
............................................................................ ;
Lý do: (Bị xử lý vi phạm hoặc bị kết án theo quyết định của tòa án, hết thời gian theo Hợp đồng lao động đã ký mà không gia hạn…) ............................................................................
.............................................................................
.............................................................................
..............................................................................

Kể từ ngày ___/___/___

Điều 2: Lương và các khoản phụ cấp (nếu có) của Ông Nguyễn Văn A được chi trả tính đến ngày chấm dứt hợp đồng lao động.

Điều 3: Các Ông (bà) Trưởng phòng Tổ chức & Nhân sự, trưởng các Phòng Ban liên quan và Ông Nguyễn Văn A căn cứ quyết định thi hành.

Nơi nhận:
GIÁM ĐỐC/TỔNG GIÁM ĐỐC
- Cá nhân Ông Nguyễn Văn A;
- Công đoàn Công ty;
- Phòng TC & NS;
- P21 (Đăng tin);
- Lưu VP, HS
NGUYỄN VĂN B

---------------------------------

>> Tham khảo dịch vụ tư vấn liên quan: Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án lao động tại toà án;

2. Quy định của luật lao động về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Thưa luật sư, Tôi gặp vấn đề như sau, mong luật sư tư vấn giúp: Tôi vào làm tại công ty từ ngày 1/1/2014 với HĐLĐ không thời hạn vị trí trưởng phòng.
- Hết năm 2014 Công ty còn nợ lương doanh số của tôi, sau khi đòi rất nhiều lần, đầu tháng 3/2015 công ty chỉ thanh toán tương đương 1/4 số nợ
- Ngày 1/4/2015 giám đốc công ty gửi email thông báo mặc dù năm 2014 đạt chỉ tiêu khách hàng, nhưng công ty xét tư duy và cách thức công việc sẽ không tiến triển tịch cực nên yêu cầu tôi tự viết đơn xin thôi việc và bàn giao ngay nếu không thì công ty sẽ ra quyết định cho thôi việc.
Xin hỏi:
- Công ty yêu cầu tôi như thế có đúng luật không?
- Tôi có phải bàn giao công việc ngay không?
- Công ty còn nợ lương 2014 sẽ giải quyết như thế nào?
- Tôi không chấp nhận tự viết đơn, nếu công ty vẫn ra quyết định cho thôi việc thì trong trường hợp đi kiện tôi sẽ nộp đơn tại Hà nội nơi công ty đặt trụ sở chính hay tại Tp.HCM nơi văn phòng chi nhánh tôi đang làm việc?
- Nếu phải nộp tại HN tôi có thể ủy quyền Luật Minh Khuê thay mặt tôi đi kiện không?
- Trường hợp tòa giải quyết thì mức bồi thường sẽ như thế nào và sẽ căn cứ trên thư chào việc + lương thực nhận (số liệu chuyển ngân hàng mỗi tháng) hay theo hợp đồng chính thức + lương theo bảo hiểm XH.
Xin trân trọng cảm ơn!
Người gửi: H.L

Quy định của luật lao động về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.1975

Trả lời:

Kính chào bạn H.L, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất, việc công ty yêu cầu bạn viết đơn xin thôi việc với lý do xét tư duy và cách thức công việc sẽ không tiến triển tịch cực là trái với quy định của pháp luật lao động hiện hành. Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động:

"Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã".

Và các trường hợp người sử dụng lao động được chấm dứt hợp đồng lao động tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động:

"Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này...".

Căn cứ mà công ty đưa ra để chấm dứt hợp đồng lao động vô thời hạn với bạn không được quy định trong Bộ luật Lao động. Do đó, việc công ty yêu cầu bạn là không đúng luật.

Thứ hai, do việc công ty yêu cầu bạn viết đơn xin nghỉ việc với lý do xét tư duy và cách thức công việc sẽ không tiến triển tịch cực là không có căn cứ, nên bạn có quyền không đồng ý với quyết định của công ty, không bàn giao công việc.

Thứ ba, về việc công ty còn nợ lương năm 2014 của bạn: Việc công ty nợ lương của người lao động đã là một việc làm trái với quy định của pháp luật lao động hiện hành, bởi Bộ luật Lao động năm 2012 tại Điều 96 về nguyên tắc trả lương, đó là:

"Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn. Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương".

Vì vậy, trong mọi trường hợp bạn đều có quyền đề nghị công ty thanh toán cho bạn số tiền lương mà công ty còn nợ của bạn và tiền lãi tính theo lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả lương tính trên thời gian nợ lương.

Thứ tư, nếu khởi kiện công ty, bạn có thể nộp đơn khởi kiện tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi chi nhánh bạn đang làm việc hoạt động.

Thứ năm, khi Tòa án giải quyết vụ việc của bạn, các nghĩa vụ tài chính mà công ty phải thực hiện với bạn được dựa trên mức lương được ghi nhận trong hợp đồng lao động.

>> Xem thêm một số quy định tại văn bản sau: Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động

Trân trọng./.

3. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

Thưa luật sư, Xin hỏi: Chị H làm việc tại cty PT loại hợp đồng có xác định thời hạn, mức lương 3100000đ trả vào ngày 30 hàng tháng (dương lịch).Tuy nhiên tiền lương hàng tháng chị H được lĩnh bị trễ so với thỏa thuận trong hợp đồng lao động, do đó qua 03 tháng làm việc chị H quyết định gửi đơn xin nghỉ việc và sau 03 ngày làm việc là chị H đã chấm dứt HĐLĐ. chị H chấm dứt HĐLĐ là đúng hay sai? vì sao? căn cứ các quy định pháp luật giải quyết trường hợp này như thế nào có lợi cho người lao động ?
Cảm ơn luật sư.

Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 1900.1975

Trả lời:

Chào bạn,cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 37, Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 Bộ luật lao động quy định Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Nếu như người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng không theo đúng quy định nêu trên thì theo quy định Điều 41 Bộ luật lao động thì được hiểu là đơn phương chấm dứt hợp động trái quy định của pháp luật.

Và Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật được quy định tại Điều 43 Bộ luật lao động như sau:

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Thưa quý khách hàng, doanh nghiệp và người lao động nên thỏa thuận và giải quyết khi chấm dứt hợp đồng lao động để không đưa về trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định của pháp luật.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục, chế độ khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1975 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

4. Chấm dứt hợp đồng lao động do không kí kết hợp đồng lao động ?

Thưa Luật sư: T là kĩ sư điện,làm việc tại cty M (100% vốn nước ngoài)đóng trên địa bàn quận Hải Châu,tp Đà Nẵng). Trước khi kí hợp đồng lao động,2 bên thỏa thuận thử việc trong thời gian là 4 tháng,từ ngày 1/9/2014 đến ngày 31/12/2014,mức lương là 90% lương công việc làm thử. Hết thời gian thử việc, mặc dù công ty M không ký hợp đồng lao động chính thức nhưng T vẫn đi làm và vẫn được giao công việc bình thường.
Do những khó khăn trong hoạt động kinh doanh,tháng 5/2015 công ty M tổ chức cơ cấu lại lao động và tiến hành sắp xếp lại nhân sự. Khi rà soát các hợp đồng lao động, công ty M phát hiện T không có hợp đồng lao động nên ngày 5/6/2015 công ty M triệu tập T đến và thông báo T nghỉ việc từ ngày 10/6/2015 với lí do giữa công ty và T không có quan hệ lao động.
Cho em hỏi:
1. Việc chấm dứt của cty M với T là đúng hay sai ?
2. Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết đơn khởi kiện của T ?
3. Theo quy định hiện hành,quyền lợi cua T được giải quyết như thê nào?
Tôi xin cảm ơn!

Chấm dứt hợp đồng lao động do không kí kết hợp đồng lao động ?

Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.1975

Trả lời:

1. Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Bộ luật lao động 2012 không quy định trường hợp không kí hợp đồng lao động nhưng vẫn làm thì có hậu quả pháp lý như thế nào. Tuy nhiên, theo chúng tôi, thì sau khi hết thời gian thử việc, T vẫn tiếp tục làm công việc đó, và công ty vẫn tiếp tục giao việc. Điều này có thể hiểu rằng việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động (điều 29 khoản 1). Như vậy, về bản chất tồn tại mối quan hệ lao động, và người sử dụng lao động phải kí kết hợp đồng. Theo thông tin bạn cung cấp, công ty T làm không có kí kết hợp đồng lao động với T đây là hành vi vi phạm pháp luật.

Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

"1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng"

Như vậy, trong trường hợp này, đơn phương với lý do không có hợp đồng lao động của công ty T làm là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

2. Thẩm quyền giải quyết

Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:

Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân.

Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Như vậy, trong trường hợp này, có thể giải quyết tranh chấp Hòa giải viên lao động hoặc bỏ qua bước hòa giải và làm đơn khởi kiện tại Tòa án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 201

3. Quyền lợi của T

quyền lợi của T được giải quyết dựa trên cơ sở pháp lý của Điều 42 BLLĐ 2012 theo đó người sử dụng lao động phải

- Nhận T trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày T được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động

- Trường hợp T không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

- Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận T vàT ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

- Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà T vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1975 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư lao động - Công ty luật Minh KHuê