Mục lục bài viết

Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

1. Vì sao cần có cơ chế bảo hiến?

Ở bất kỳ quốc gia nào, Hiến pháp cũng được tôn vinh như một đạo luật có hiệu lực pháp lý tối cao trong toàn bộ hệ thống pháp luật cũng như đời sống xã hội. Hiến pháp là văn bản giới hạn quyền lực Nhà nước nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân bằng những chuẩn mực pháp lý.

Hiến pháp là đạo luật gốc của quốc gia, là kim chỉ nam cho tất cả các đạo luật khác ban hành trên tất cả các lĩnh vực. Chủ thể ban hành văn bản pháp luật suy cho cùng cũng là những con người, không thể tránh khỏi những sai sót trong khi hậu quả của một đạo luật trái với Hiến pháp có khả năng gây thiệt hại rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bảo hiến sẽ góp phần kiểm soát mọi hoạt động của các chủ thể, đặc biệt là cơ quan Nhà nước trong giới hạn của Hiến pháp, loại bỏ những đạo luật vi hiến khỏi đời sống xã hội.

Vì tầm quan trọng đặc biệt đó, Hiến pháp đòi hỏi phải được mọi chủ thể trong xã hội tôn trọng, thực hiện và bảo vệ. Do đó, đã có Hiến pháp thì nhất định phải có cơ chế bảo hiến nếu không muốn đạo luật gốc của một quốc gia trở thành những lời tuyên ngôn sáo rỗng, hình thức. Điều kiện tối quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền là thực hiện và đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp, cũng chính là xây dựng cơ chế bảo hiến chuyên nghiệp và hiệu quả.

2. Mô hình bảo hiến trên thế giới

Về cơ chế bảo hiến, không có một mô hình bảo hiến nào là tối ưu hoàn toàn và có thể áp dụng cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Việc áp dụng cơ chế bảo hiến nào hoàn toàn phụ thuộc vào sự lựa chọn của Nhà nước đó dựa trên tổng thể các yếu tố lịch sử, xã hội, kinh tế, chính trị, đặc thù. Qua quá trình tìm hiểu, nhóm đã xác định được 3 mô hình bảo hiến được áp dụng phổ biến hiện nay dựa trên sự phân chia thẩm quyền bảo hiến cho các chủ thể khác nhau, đó là: mô hình chức năng bảo hiến thuộc về Quốc hội (thường ở các nước đại nghị như Anh), mô hình Tòa án thẩm quyền chung thực hiện cả chức năng bảo hiến (Mỹ, Nhật Bản…), mô hình cơ quan bảo hiến độc lập như Hội đồng bảo hiến của Pháp hay Tòa án Hiến pháp của Nga.

3. Cơ sở hình thành cơ chế bảo hiến ở Hoa Kỳ và Pháp

3.1. Cơ sở hình thành cơ chế bảo hiến ở Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trên thế giới trao cho các tòa án quyền phán quyết về tính hợp hiến của các văn bản luật và văn bản dưới luật. Trong toàn bộ Hiến pháp Mỹ nhìn chung không có điều nào quy định trao cho Tòa án thẩm quyền tuyên bố một đạo luật do Nghị viện ban hành là vi hiến. Việc tòa án được quyền phán quyết tính hợp hiến của các văn bản luật và văn bản dưới luật được xác định từ năm 1803 sau vụ án nổi tiếng của nước Mỹ – vụ án John Marbury chống Madison. Theo đó, cơ sở hình thành cơ chế bảo hiến của Hoa Kỳ là từ án lệ,

Giải quyết vụ án Marbury và Madison, Chánh án Tòa án tối cáo John Marshall đã đưa ra các tuyên bố sau: Hiến pháp là luật tối cao của đất nước; những luật hay quyết định được đưa ra bởi cơ quan lập pháp là một bộ phận của Hiến pháp và không được trái với Hiến pháp; thẩm phán, người đã từng tuyên thệ bảo vệ Hiến pháp, phải tuyên bố hủy bỏ những luật lệ quy định nào của cơ quan lập pháp mâu thuẫn với Hiến pháp. Ba tuyên bố trên đây đã xác lập chức năng bảo hiến của tòa án và quyền tài phán của tòa án về các quyết định của lập pháp và hành pháp liên quan đến Hiến pháp.

Trong vụ án này, J.Marshall đã rất khôn ngoan khi từ bỏ 1 lợi ích nhỏ để hướng đến một mục đích lớn hơn. Giúp cho hệ thống các cơ quan Tòa án Mỹ không những có chức năng xét xử các hành vi vi phạm pháp luật của công dân mà còn có chức năng kiểm soát, hạn chế quyền lực của các cơ quan lập pháp và hành pháp.

Tòa án Mỹ có khả năng kìm chế đối trọng, đương đầu với 2 nhánh quyền lực còn lại là lập pháp và hành pháp.

3.2. Cơ sở hình thành cơ chế bảo hiến ở Pháp

Hiến pháp ngày 04/10/1958 đánh dấu sự ra đời của nền Cộng hòa thứ V – chính thể hiện hành của nước Pháp. Hiến pháp thiết lập chế độ Cộng hòa lưỡng tính dựa trên chế độ Nghị viện hợp lý và xu hướng đề cao vai trò của Tổng thống. Lần đầu tiên, Hiến pháp Pháp quy định việc thành lập một cơ quan chuyên trách bảo vệ Hiến pháp – Hội đồng Hiến pháp. Như vậy, cơ sở hình thành cơ chế bảo hiến của Pháp là do Hiến pháp quy định và trao cho Hội đồng bảo hiến của Cộng hòa Pháp được Tổng thống Charles De Gaulle thành lập năm 1958 thật ra là những toan tính, thủ đoạn chính trị của ông, là công cụ trong tay Tổng thống nhằm làm suy yếu Nghị viện, tăng cường quyền lực cho Tổng thống Cộng hòa Pháp (Tổng thống được phủ quyết Luật).

4. Chủ thể có thẩm quyền bảo hiến ở Hòa Kỳ và Pháp

4.1. Chủ thể có thẩm quyền bảo hiến ở Hoa Kỳ

Bảo hiến ở Mỹ được thực hiện theo cơ chế giám sát tư pháp với mô hình phi tập trung (Diffuse system). Mô hình này theo hướng trao thẩm quyền trong giám sát việc bảo hiến cho hệ thống các cơ quan Tòa án, kể cả Tòa án của các bang và hệ thống Tòa án liên bang, trong đó Tối cao pháp viện là cơ quan thẩm định tối cao tính hợp hiến của các đạo luật cụ thể. Bất kỳ Tòa nào cũng có thẩm quyền phán quyết tính hợp hiến của một đạo luật nhưng phán quyết của Tối cao pháp viện – cấp tòa cao nhất của hệ thống Tòa án Mỹ mới có tính bắt buộc đối với các Tòa án còn lại.

Tính phi tập trung còn thể hiện ở việc xem xét một đạo luật có vi hiến hay không chỉ được tiến hành khi đạo luật đó được áp dụng vào một vụ việc cụ thể, khi đó Tòa án xét xử vụ việc đó mới thực hiện bảo hiến – tức tuyên bố đạo luật đó vi hiến. Như vậy, tất cả các Tòa án ở Mỹ đều có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật trong một vụ việc cụ thể, họ phải áp dụng chúng và các Tòa án có quyền từ chối áp dụng những đạo luật này khi thấy chúng không phù hợp với Hiến pháp. Thẩm quyền này của Tòa án không được quy định trong Hiến pháp mà được hình thành từ chức năng giải thích Hiến pháp được chánh án J. Marshall – Tối cao pháp viện sáng tạo ra năm 1803 sau vụ án Marbury kiện Madison: “Chỉ có Tòa án mới có quyền và nghĩa vụ tuyên bố cái gì được gọi là luật”, “Một văn bản trái với Hiến pháp không phải là luật”. Tiền lệ này đã đặt nền tảng cho Mỹ về hoạt động bảo hiến với đặc điểm chính là sự giám sát bảo hiến do chính các Tòa án có thẩm quyền chung thực hiện.

Ưu điểm của cơ chế bảo hiến theo mô hình phi tập trung là có nhiều cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động bảo hiến – tất cả các Tòa án đều có thể tuyên bố một đạo luật là vi hiến khi xem xét chúng trong một vụ việc cụ thể nên khả năng phát hiện và tiếp cận sẽ dễ dàng. Thêm vào đó, do sự độc lập của nhánh tư pháp và của các Tòa thuộc hệ thống Tòa án Liên bang và Tòa thuộc hệ thống Tòa án các tiểu bang nên sự ảnh hưởng trong hoạt động của mỗi cơ quan hầu như rất hạn chế.

Nhược điểm của cơ chế giám sát này là do không có sự thống nhất trong hệ thống nên dễ tạo ra tình trạng mâu thuẫn giữa các Tòa – do cách giải thích Hiến pháp của các Chánh án là khác nhau. Việc tìm kiếm thông tin liên quan cũng gặp nhiều khó khăn – rất khó để tìm kiếm một cách nhanh chóng một đạo luật vì sao bị tuyên bố vi hiến theo phán quyết của một Tòa án nào đó trong hệ thống Tòa án ở Mỹ. Hơn nữa, do Tòa án nào cũng có thẩm quyền về bảo hiến nên đòi hỏi các Chánh án phải có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo bài bản, có hiểu biết sâu rộng về Hiến pháp Liên bang để thực hiện tốt hoạt động bảo hiến.

4.2. Chủ thể có thẩm quyền bảo hiến ở Pháp

Khác với mô hình giám sát bảo hiến phi tập trung của Mỹ – hoạt động bảo hiến gắn liền với hệ thống Tòa án, mọi vụ việc về những vấn đề liên quan đến Hiến pháp đều do các Tòa có thẩm quyền chung xem xét thì cơ chế bảo hiến ở Pháp được thực hiện theo mô hình tập trung, tức là thẩm quyền thực hiện bảo hiến chỉ thuộc về một cơ quan duy nhất là Hội đồng Hiến pháp – Conseil Constitutionnel (Hội đồng bảo hiến), được thành lập với sự tham gia của nhóm hành pháp và lập pháp. Việc tham gia của cả hai nhánh cơ quan quyền lực trên vào cơ quan bảo hiến chuyên trách này có thể tránh được khả năng phải phục tùng một nhánh, điều này đảm bảo được sự độc lập của Hội đồng Hiến pháp trong hoạt động giám sát các vấn đề hiến định của mình.

Ưu điểm của cơ chế: do Hội đồng Hiến pháp là cơ quan chuyên trách về bảo hiến nên hoạt động của cơ quan này luôn được xuyên suốt và không gặp trở ngại từ các cơ quan khác, do đó, sẽ không xuất hiện tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong hoạt động bảo hiến như ở Mỹ. Ngoài ra, khi cần tìm kiếm thông tin liên quan đến vấn đề bảo hiến, chỉ cần liên hệ với Hội đồng Hiến pháp.

Nhược điểm: do tính chất chuyên trách nên cần phải có một Hội đồng Hiến pháp với cơ cấu tổ chức chặt chẽ (đòi hỏi quy mô cả về cơ cấu tổ chức và chuyên môn nghiệp vụ) với các thành viên được đào tạo chuyên sâu, bài bản, có kiến thức sâu rộng về Hiến pháp và áp lực công việc đối với việc bảo hiến là rất lớn do khối lượng công việc nhiều hơn.

5. Tính chất giám sát bảo hiến ở Hoa Kỳ và Pháp

5.1. Cơ chế giám sát mang tính cụ thể ở Hoa Kỳ

Ở Mỹ hình thành hệ thống giám sát cụ thể. Quyền bảo hiến gắn liền với việc giải quyết các vụ việc cụ thể. Trên cơ sở Hiến pháp và các đạo luật được áp dụng giải quyết một vụ việc. Tòa án sẽ xem xét áp dụng đạo luật đó hoặc từ chối áp dụng khi đạo luật có dấu hiệu vi hiến. Chỉ có tòa án mới được xem xét tính bảo hiến trong trường hợp có sự liên quan trực tiếp các quyền và lợi ích hợp pháp của người đề nghị. Như vậy, tiền đề để quyền bảo hiến được tòa án xem xét tới và giải quyết là khi có vụ kiện liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cụ thể.

Ưu điểm: Cơ chế giám sát cụ thể luôn mang tính rõ ràng, thể hiện nội dung của đạo luật có vi hiến hay không ở điểm nào, mục nào, có thể vô hiệu trên thực tế ở những nội dung nào hay toàn bộ, có thể xác định rõ được đạo luật có vi hiến hay không về cả mặt câu chữ và cả mặt thực tiễn khi thi hành và áp dụng do nó được đặt trong một vụ việc, một tranh chấp cụ thể.

Nhược điểm: việc giám sát cụ thể lại dựa trên kiện tụng – tiền đề xem xét của Tòa án về tính hợp hiến thì khả năng bao quát, cái nhìn toàn diện cho một đạo luật có hợp hiến hay không luôn bị thu hẹp và phụ thuộc nhiều vào cách đánh giá, nhìn nhận chủ quan của các Thẩm phán.

5.2. Cơ chế giám sát mang tính trừu tượng ở Pháp

Ở Pháp hình thành cơ chế giám sát mang tính trừu tượng. Quyền bảo hiến gắn liền với hoạt động giám sát trước khi công bố một đạo luật. Không cần tới một vụ kiện cụ thể, việc giám sát tuân thủ Hiến pháp diễn ra khi đạo luật chưa được áp dụng trên thực tế, việc tuyên bố một đạo luật là vi hiến cũng không dựa trên việc nó xâm phạm cụ thể đến quyền lợi của chủ thể nào trong xã hội mà dựa trên hiến pháp và các nguyên tắc có giá trị như hiến pháp, một đạo luật được xem xét tính hợp hiến bởi Hội đồng bảo hiến hoặc Hội đồng hiến pháp. Từng tính chất hay nội dung được giám sát chung, tổng quát dựa trên các lí do và cơ sở.

Ưu điểm: Hệ thống giám sát này luôn đi kèm với việc ban hành một đạo luật có hợp hiến hay không, đảm bảo tính hợp hiến ngay từ khi có hiệu lực dựa trên hiến pháp.

Nhược điểm: cách đánh giá một đạo luật có hợp hiến hay không chỉ dừng lại ở mặt lý thuyết, câu chữ, thiếu thực tế. Đạo luật bị hủy bỏ có thể vi hiến về mặt câu chữ nhưng khi áp dụng trên thực tế thì hoàn toàn hợp hiến và vẫn đảm bảo được quyền và lợi ích hơp pháp của các chủ thể.

5.3. Cơ chế giám sát sau của Hoa Kỳ

Hoa kỳ: với cơ chế giám sát sau thì sau khi một đạo luật được ban hành bởi Nghị viện thì đạo luật đó có hiệu lực. Tòa án tư pháp không có thẩm quyền tuyên bố hủy hay vô hiệu một đạo luật đó dù nó có vi hiến. Đặc biệt, Tòa án chỉ được xem xét tính hợp hiến khi đạo luật đó đã chính thức có hiệu lực pháp luật.

Ưu điểm: Cơ chế giám sát sau luôn được thể hiện một cách rõ ràng, khi mà những đạo luật bị xem xét trong một trường hợp cụ thể, thể hiện được tăng cường cơ chế kìm chế, đối trọng, nâng cao vai trò kiểm sát của tòa án đối với cơ quan lập pháp.

Nhược điểm: việc giám sát sau nếu không được kiện tụng – tiền đề để xem xét, thì nó mãi luôn là đạo luật vi hiến ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong một tương lai gần (sự xâm hại của một đạo luật vi hiến luôn hiện hữu). Không những vậy, việc giám sát sau đồng nghĩa với việc công dân đã bị thiệt hại về quyền và lợi ích trên thực tế rồi mới được kiện tụng để xem xét tính hợp hiến của một đạo luật. (đạo luật vi hiến luôn có khả năng xâm hại đến chủ thể khác ít nhất là một lần).

5.4. Cơ chế giám sát trước của Pháp

Khi một đạo luật đã được Nghị viện thông qua, đang trong thời gian công bố và các Điều ước quốc tế đang chờ phê chuẩn thì việc giám sát tính hợp hiến được thực hiện bắt buộc đối với những đạo luật về tính chất và nội dung hoạt động của Nghị viện do Nghị viện ban hành trước khi có hiệu lực pháp luật; không bắt buộc đối với những đạo luật khác. Tổng thư ký văn phòng Chính Phủ có trách nhiệm kiểm tra các kiến nghị về việc xem xét tính hợp hiến trước khi ban hành.

Ưu điểm Giám sát trước giúp cho đạo luật được hợp lý, đúng đắn hơn và không vi hiến, tránh được tình trạng đạo luật vi hiến gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân rồi mới đươc xem xét, sửa đổi

Nhược điểm cơ chế giám sát trước thực hiện một cách hình thức, khi chưa có thực tiễn để nhận biết rõ đạo luật đó trên thực tế có vi hiến hay không để sửa đổi hay xóa bỏ.

6. Phạm vi thẩm quyền bảo hiến ở Hoa Kỳ và Pháp

6.1. Phạm vi thẩm quyền bảo hiến ở Hoa Kỳ

Hoạt động bảo hiến không tách rời khỏi hệ thống Tòa án nói chung; ở đây không có dạng vụ việc cụ thể về các vấn đề hiến định mà có thể có mặt ở bất cứ vụ việc dân sự, hình sự, hành chính, thương mại nào. Ở Mỹ không có sự phân chia cụ thể về phạm vi thẩm quyền trong lĩnh vực hiến pháp mà phạm vi này phụ thuộc vào tính chất của vụ việc được xem xét. Các Tòa án ở Hoa Kỳ có thể thực hiện tất cả các thẩm quyền thuộc lĩnh vực bảo hiến như:

Thẩm quyền liên quan đến việc đảm bảo tính tối thượng của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật quốc gia: giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật, giải thích Hiến pháp. Theo thẩm quyền này, nếu Tòa án cho rằng một đạo luật không hợp hiến thì đạo luật đó không được Tòa án áp dụng trong các vụ việc tiếp theo.

Thẩm quyền liên quan tới sự đảm bảo tuân thủ nguyên tắc phân công quyền lực: xem xét những tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước – giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, giữa liên bang và các tiểu bang.

Thẩm quyền liên quan tới việc bảo vệ các quyền tự do hiến định như các quyền công dân, quyền bầu cử, quyền trưng cầu dân ý,…

Thẩm quyền liên quan tới việc bảo vệ hiến pháp khỏi sự xâm phạm của các quan chức nhà nước cao cấp.

Ưu điểm: Như vậy, phạm vi thẩm quyền của Hoa Kỳ được xác định dựa trên thẩm quyền chung như là giải quyết một vụ việc cụ thể. Chúng có thể có mặt ở bất cứ vụ việc nào, cho dù đó là vụ hình sự, dân sự, hành chính, và được phán xét ở các toà có thẩm quyền chung, theo một trình tự chung. Phạm vi đó phụ thuộc vào tính chất của vụ việc được xem xét và trong nhiều trường hợp – vào sự suy xét của toà. Với cơ chế này, Tòa án không hề chịu bất cứ sự hạn chế nào về thẩm quyền trong việc xem xét tính vi hiến của một đạo luật. Miễn là đạo luật đó vi hiến và khi áp dụng đạo luật vào giải quyết vụ việc cụ thể sẽ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể

Nhược điểm: Tuy nhiên, việc trao thẩm quyền bảo hiến dựa trên thẩm quyền giải quyết một vụ việc cụ thể sẽ tạo ra quyền hạn quá lớn cho cơ quan tư pháp, phá vỡ cơ chế kiềm chế đối trọng giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cơ quan tư pháp hoàn toàn có thể sử dụng quyền năng này như một chiêu trò chính trị nhằm chống lại hoạt động của cơ quan lập pháp.

6.2. Phạm vi thẩm quyền bảo hiến ở Pháp

Do Hội đồng Hiến pháp là cơ quan chuyên biệt về bảo hiến ở Pháp nên có các thẩm quyền sau:

Giải thích Hiến pháp và xem xét tính hợp hiến của các đạo luật: Thẩm tra tính hợp pháp của hoạt động ban hành pháp luật của các cơ quan nhà nước (Điều 37, 41 Hiến pháp Cộng hòa Pháp 1958); thẩm tra tính hợp hiến của các đạo luật (bắt buộc đối với các đạo luật tổ chức, không bắt buộc đối với các đạo luật khác), tính hợp hiến của các điều ước quốc tế (Điều 54, thẩm tra không bắt buộc);

Giải quyết tranh chấp về bầu cử và trưng cầu ý dân: Thẩm tra tính hợp pháp của các thủ tục trưng cầu ý dân, bầu cử Tổng thống, bầu cử Nghị viện, tuyên bố kết quả bầu cử Tổng thống, tuyên bố Tổng thống tạm thời không đảm nhiệm được chức vụ hoặc xác định vị trí Tổng thống bị khuyết;

Giám sát Hiến pháp về vấn đề quyền con người: Hội đồng đã phát triển một hệ thống án lệ cho phép bảo vệ các quyền và tự do cá nhân dựa trên lời mở đầu của Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân và các nguyên tắc cơ bản được pháp luật thừa nhận. Giám sát Hiến pháp trong việc giải quyết tranh chấp giữa Nghị viện và Chính phủ;

Khác với căn cứ xác định phạm vi thẩm quyền theo cơ chế bảo hiến Hoa Kỳ, phạm vi thẩm quyền theo cơ chế bảo hiến của Pháp được trao bởi chính Hiến pháp Cộng hòa Pháp. Phạm vi thẩm quyền này mang tính chất chuyên biệt mà các cơ quan tư pháp khác không có

Ưu điểm của cơ chế này là phạm vi thẩm quyền được liệt kê một cách cụ thể và chịu sự giới hạn nhất định bởi Hiến pháp. Thẩm quyền được tập trung toàn bộ vào một cơ quan và cơ quan này sẽ phải chịu trách nhiệm về vấn đề bảo hiến, điều này đảm bảo sự độc lập trong hoạt động của Hội đồng Hiến pháp. Và việc giám sát bảo hiến cũng sẽ được diễn ra một cách khách quan và hiệu quả hơn – do chỉ thông qua một cơ quan duy nhất và độc lập với các nhánh quyền lực

Nhược điểm: việc quy định phạm vi thẩm quyền bảo hiến một cách cụ thể sẽ kiềm hãm sự linh hoạt trong phạm vi thẩm quyền. Bởi lẽ, theo hình thức liệt kê sẽ có khả năng bỏ sót đi các thẩm quyền cần thiết cho hoạt động bảo hiến. Suy cho cùng, phạm vi thẩm quyền trong mô hình này là cứng nhắc trong khi các quan hệ xã hôi luôn phát triển theo xu hướng khách quan. Cho nên, phạm vi thẩm quyền khó mà dự liêu trước được những quan hệ xã hội sẽ phát sinh trong tương lai.

7. Thủ tục xem xét tính hợp hiến hay vi hiến của một đạo luật ở Hoa Kỳ và Pháp

7.1. Thủ tục xem xét tính hợp hiến hay vi hiến của một đạo luật ở Hoa Kỳ

Ở Hoa Kỳ, theo thủ tục tố tụng thông thường. Không có một trình tự tố tụng dân sự hay hình sự thống nhất mà tùy theo pháp luật của liên bang cũng như của từng bang quy định. Tùy thuộc vào từng nội dung của vụ việc mà Tòa án Tối cao có thể xét xử vụ việc đó (có thể) theo thủ tục tố tụng dân sự hay thủ tục tố tụng hình sự.

Thủ tục này không được quy định trong hiến pháp mà được hình thành dựa trên án lệ và được xác lập từ quyết định của Chánh án Tòa án Tối cao John Marshall trong vụ Marbury kiện Madism vào năm 1803 tạo thành một nguyên tắc trong việc xác định tính hợp hiến của các hành vi lập pháp và hành pháp. Tiếp theo án lệ này, một loạt các án lệ xác minh tính hợp hiến của các hành vi lập pháp liên tiếp ra đời, đơn cử như: Vụ Gibbons kiện Ogden (1824), Vụ Dred Scott kiện sandford (1857), Vụ Ban quan hệ lao động quốc gia (NLRB) kiện công ty thép Jones & Laughlin (1937), Vụ Brown kiện Ban giáo dục (1954),…

Ưu điểm: Tòa án có thể dễ dàng xem xét được tính hợp hiến của các hành vi lập pháp, hành pháp, ngăn chặn được nhiều hành vi lập pháp, hành pháp vi hiến cụ thể. Như vậy, khả năng tiếp cận của các chủ thể trong xã hội là dễ dàng và rộng rãi hơn vì được xuất phát từ một vụ việc cụ thể và theo thủ tục thông thường – một thủ tục không quá xa lạ trong đời sống pháp luật của các chủ thể. Bất cứ ai cũng có thể yêu cầu Tòa án xem xét lại đạo luật mà khi tuân thủ đạo luật đó sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Nhược điểm: dễ tạo ra tình trạng bừa bãi, gây nhiều áp lực công việc lên cho tòa án các bang và các liên bang

7.2. Thủ tục xem xét tính hợp hiến hay vi hiến của một đạo luật ở Pháp

Pháp luật Pháp quy định trình tự xem xét tính hợp pháp theo thủ tục hành chính-mệnh lệnh. (với một thủ tục đặc biệt được trao cho Hội đồng bảo hiến và dựa trên Hiến pháp)

Khi có đề nghị của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Thượng viện, Hạ viện hoặc 60 nghị sĩ thuộc Thượng viên hay Hạ viện, Hội đồng bảo hiến sẽ tiến hành phiên họp kín nhằm xác định tính hợp hiến của một đao luật (đối với các đạo luật hình thành bằng con đường trưng cầu dân ý, Hội đồng bảo hiến sẽ không xem xét tính hợp hiến). Đến cải cách tư pháp 2008, cá nhân cũng được quyền yêu cầu Hội đồng hiến pháp xem xét lại tính hợp hiến của các văn bản luật.

Hội đồng sẽ làm việc theo tập thể và quyết định theo đa số. Cuộc họp phải có ít nhất bảy trên chín thành viên của Hội đồng bảo hiến tham dự thì mới được tiến hành. Đạo luật sẽ vi hiến trong trường hợp có quá nửa tổng số thành viên tham dự biểu quyết tán thành phán quyết cho rằng đạo luật đó vi hiến. Trong trường hợp biểu quyết ngang phiếu, thì quyền quyết định sẽ thuộc về Chủ tịch Hội đồng bảo hiến.Hội đồng Hiến pháp phải xem xét và cho ý kiến trong thời hạn một tháng. Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, theo yêu cầu của Chính phủ, thời hạn này có thể rút gọn còn 8 ngày (Điều 61 Hiến pháp 1958 Cộng hòa Phap19.

Nhược điểm: Với thủ tục này chỉ có một số chủ thể đặc biệt mới có quyền đưa ra yêu cầu xem xét tính hợp hiến của một đạo luật khiến cho khả năng tiếp cận cơ chế bảo hiến của các chủ thể tương đối khó khăn và bị giới hạn nhưng cũng đồng thời tạo ra sự khách quan khi tách bạch thẩm quyền lập pháp với việc xem xét sự hợp hiến của các đạo luật và không phụ thuộc, chồng chéo lẫn nhau.

8. Nhiệm kỳ của các cá nhân được trao quyền bảo hiến ở Hoa Kỳ và Pháp

8.1. Nhiệm kỳ của các cá nhân được trao quyền bảo hiến ở Hoa Kỳ

Bởi tính ràng buộc áp dụng phán quyết của tòa án tối cao với các tòa án cấp dưới. Hiến pháp bảo đảm tính độc lập của nhánh tư pháp bằng cách quy định các thẩm phán liên bang được duy trì chức vụ “miễn là đạo đức tốt” – nhiệm kỳ suốt đời. Điều này có nghĩa là các thẩm phán phục vụ cho đến khi qua đời, về hưu hoặc từ nhiệm. Thẩm phán liên bang được bổ nhiệm bởi tổng thống và được phê chuẩn bởi Thượng viện. Như vậy, một thẩm phán liên bang được bổ nhiệm trọn đời bởi Tổng thống và được phê chuẩn bởi Thượng viện để hình thành nhánh lập pháp liên bang.

Ưu điểm: Việc được bổ nhiệm trọn đời có thể giúp cho các thẩm phán có thể thực hiện được những phương hướng, quan điểm thống nhất trong một thời gian dài, không bị lệ thuộc vào những tổng thống về sau khi muốn bổ nhiệm ra thẩm phán, tạo nên khả năng kìm chế, đối trọng đúng nghĩa của nó.

Nhược điểm: Tuy nhiên, việc bổ nhiệm trọn đời ảnh hưởng nhiều đến quan điểm chính trị, đáng phái của những đời tổng thống trước hay đảng phái trước, cản trở hay kìm kẹp đến những tổng thống và đảng phái sau này, gây ảnh hưởng đến tính khách quan của cơ chế bảo hiến.

8.2. Nhiệm kỳ của các cá nhân được trao quyền bảo hiến ở Pháp

Nhiệm kỳ của các thành viên trong hội đồng bảo hiến bị giới hạn, Điều 4 Luật Tổ chức Hội đồng bảo hiến quy định tư cách của thành viên có thể do hết nhiệm kì, không còn khả năng công tác, qua đời, thành viên không bị giới hạn ở độ tuổi, trình độ chuyên môn. Nhiệm kì của các thành viên là 9 năm, không được tái nhiệm.Cứ 3 năm 1 lần được thay đổi 1/3. Khi một thành viên bị chết, hay không còn khả năng công tác thì bổ sung thêm thành viên mới, thực hiện những nhiệm vụ còn lại. Nếu nhiệm vụ còn lại ít hơn 3 năm thì công tác đủ 9 năm là hết nhiệm kỳ.

Ưu điểm: Việc Pháp quy định nhiệm kì của Hội đồng bảo hiến tạo nên sự khách quan, tính công bằng, không tạo sự ỷ lại, duy ý chí đối với việc bảo hiến như nhiệm kì trọn đời. Tuy nhiên, Việc thay đổi nhiệm kì, không được tái nhiệm tạo tư duy đổi mới, phù hợp với việc tạo ra và giám sát hiến pháp mới.

Nhược điểm: quan điểm hay kinh nghiệm bảo vệ tính hợp hiến luôn bị thay đổi và ít nhiều chịu sự ảnh hưởng của đảng phái luôn nắm quyền.

9. Hệ quả pháp lý đối với một đạo luật bị tuyên là vi hiến ở Hoa Kỳ và Pháp

9.1. Hệ quả pháp lý đối với một đạo luật bị tuyên là vi hiến ở Hoa Kỳ

Đối với các hành vi bị Tòa án Hoa Kỳ tuyên bố là vi hiến, Tòa án không có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung. Đặc điểm này xuất phát từ nguyên tắc phân quyền, cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực giữa 3 nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp, không có nhánh quyền lực nào chiếm ưu thế. Quyền lập pháp thuộc về Nghị viện nên sửa đổi, bổ sung cũng là thẩm quyền của Nghị viện chứ không phải cơ quan tư pháp. Do vậy, Tòa án không có thẩm quyền hủy bỏ hiệu lực cũng như sửa đổi bổ sung đạo luật được phán xét là vi hiến.

Về nguyên tắc, việc tuyên bố đạo luật là hợp hiến hay vi hiến chỉ có giá trị pháp lý trong một vụ việc cụ thể nhưng trên thực tế do hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ tôn trọng nguyên tắc Stare Decisis (tuân thủ các pháp quyết trước đây và không phá vỡ những quy phạm pháp luật được thiết lập trong án lệ trong án lệ) cho nên khi Tòa án tối cao ra một phán quyết tuyên bố hành vi lập pháp, hành pháp là vi hiến thì Tòa án cấp dưới sẽ từ chối áp dụng hành vi vi hiến đó, từ đó hành vi vi hiến không bị bãi bỏ nhưng cũng không còn phát sinh hiệu lực trên thực tế.

Do thủ tục xem xét hành vi lập pháp, hành pháp có vi hiến hay không là thủ tục thông thường – được xem xét theo thủ tục Tố tụng dân sự hoặc Tố tụng hình sự tùy theo tính chất vụ việc cụ thể – nên khi Tòa án đưa ra một phán quyết tuyên bố một hành vi lập pháp, hành pháp vô hiệu thì phán quyết này không có giá trị chung thẩm mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị bởi một cơ quan cao hơn và bị cưỡng chế thi hành như là một vụ án thông thường.

Ưu điểm: Việc chỉ cho phép Tòa án phán quyết về một hành vi lập pháp, hành pháp vi hiến mà không bãi bỏ sẽ giảm đi một quy trình không cần thiết và tốn thời gian bởi về mặt nguyên tắc, phán quyết này tuy chỉ có giá trị pháp lý trong một vụ việc cụ thể nhưng lại không thể được áp dụng bởi các tòa án cấp dưới. Đồng thời, việc cho phép cơ quan có địa vị pháp lý cao hơn so với Tòa án đưa ra phán quyết có thể kháng cáo, kháng nghị sẽ khắc phục được sai lầm của Tòa án cấp dưới trong việc đạo luật đó không vi hiến nhưng lại bị tòa án phán quyết vi hiến, đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vụ việc.

Nhược điểm: gây khó khăn trong việc nghiên cứu pháp luật và ảnh hưởng đến khả năng tranh tụng của luật sư. Việc không bãi bỏ các hành vi lập pháp, hành pháp bị phán quyết là vi hiến dễ dẫn đến tình trạng gây nhầm lẫn đối với các đối tượng muốn nghiên cứu về hệ thống pháp luật Hoa Kỳ hoặc các luật sư muốn dùng án lệ để làm bằng chứng phải tốn nhiều thời gian hơn để lọc bỏ bớt các vụ việc vi hiến. Việc cho phép kháng cáo, kháng nghị của cơ quan cấp cao hơn đối với phán quyết vi hiến của Tòa án sẽ làm giảm tính tối cao của Hiến pháp.

9.2. Hệ quả pháp lý đối với một đạo luật bị tuyên là vi hiến ở Pháp

Theo Điều 62 Hiến pháp 1958 của Cộng hòa Pháp thì khi một đạo luật bị Hội đồng hiến pháp tuyên bố là vi hiến thì sẽ không được ban hành và áp dụng. Phán quyết này của Hội đồng hiến pháp có giá trị chung thẩm, không bị khiếu nại hay kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các cơ quan quyền lực nhà nước và tất cả các cơ quan hành chính và tư pháp.

Đạo luật sau khi được Hội đồng hiến pháp tuyên bố là vi hiến hay hợp hiến sẽ được thông qua bởi Nghị viên theo yêu cầu của Tổng thống.

Theo cải cách Hiến pháp năm 2008 thì một đạo luật bị tuyên bố vi hiến theo cơ sở được quy định tại Điều 61-1 thì sẽ bị bãi bỏ giống với các văn bản được quyết định từ Hội đồng hiến pháp hoặc một thời điểm được quy định trong phán quyết đó.

Việc lập ra một cơ quan riêng biệt thực hiện quyền bãi bỏ các đạo luật vi hiến sẽ tạo ra sự cân bằng giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp, Hội đồng hiến pháp có thể bãi bỏ các đạo luật của cơ quan trong các nhánh quyền lực mà không chịu sự ảnh hưởng của các nhánh quyền lực tạo ra sự chính xác và hiệu quả hơn trong việc xác định tính hợp hiến của các đạo luật.

Ưu điểm: Như vậy việc bãi bỏ ngay đạo luật vi hiến sẽ giúp cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mang tính thống nhất cao và chỉ tuân thủ theo Hiến pháp. Các đạo luật vi hiến sẽ không có cơ hội xâm hại đến quyền và lợi ích của các chủ thể do đã bị bãi bỏ ngay từ khi chưa có hiệu lực pháp luật.

Nhược điểm: Tuy nhiên, khi quy định cho các phán quyết có thẩm quyền chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị thì dễ dẫn đến việc sai lầm trong việc xác định tính hợp hiến của các đạo luật nhưng không thể sửa đổi được, gây nên việc lãng phí về thời gian, công sức khi đạo luật đó là hợp hiến nhưng lại bị tuyên là vi hiến. Điều này có thể làm cho quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các chủ thể không thể bảo đảm.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập