Chính sách thuế được cả cấp Liên bang và cấp bang sử dụng để khuyến khích và thu hút đầu tư. Một số chính sách thuế được áp dụng theo từng thời kỳ nhất định. Chính sách thuế chủ yếu là chính sách giảm thuế (tax credit). Giảm thuế là việc khấu trừ trực tiếp một khoản tiền từ tổng nghĩa vụ thuế...
1. Chính sách ưu đãi thuế
Chính sách thuế được cả cấp Liên bang và cấp bang sử dụng để khuyến khích và thu hút đầu tư. Một số chính sách thuế được áp dụng theo từng thời kỳ nhất định. Chính sách thuế chủ yếu là chính sách giảm thuế (tax credit). Giảm thuế là việc khấu trừ trực tiếp một khoản tiền từ tổng nghĩa vụ thuế, USD đối với USD, khác với việc khấu trừ từ thu nhập thuần

Chính sách giảm thuế đầu tư năng lượng cấp Liên bang (The Federal Business Energy Investment Tax Credit) được quy định tại Điều 48 Bộ luật ngân sách (Internal Revenue Code). Luật phát triển năng lượng năm 2008 kéo dài thời hạn giảm thuế lên 08 năm cho các các đối tượng thuộc lĩnh vực năng lượng mặt trời (solar energy), tế bào nhiên liệu (fuel cells), microturbines. Luật này cũng quy định áp dụng chính sách giảm thuế cho hệ thống năng lượng gió quy mô nhỏ (small wind-energy systems), hệ thống địa nhiệt (geothermal heat pumps) và hệ thống kết hợp làm nóng và điện (combined heat and power (CHP) systems). Về cơ bản, chính sách giảm thuế đầu tư năng lượng cấp Liên bang được áp dụng cho các hệ thống năng lượng đạt tiêu chuẩn đang hoạt động trong hoặc trước ngày 31/12/2016. Hệ thống năng lượng mặt trời, tế bào nhiên liệu và hệ thống năng lượng gió quy mô nhỏ (dung lượng tối đa 100 KW) được hưởng mức giảm thuế tương đương 30% chi phí mà không có mức giới hạn tối đa. Đối với hệ thống năng lượng mặt trời, đối tượng được giảm thuế bao gồm các thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời để phát điện, làm nóng hoặc làm lạnh (hoặc cung cấp nước nóng để sử dụng trong một cấu trúc) hoặc cung cấp quy trình làm nóng. Hệ thống tạo ánh sáng mặt trời mà sử dụng năng lượng mặt trời để tạo ánh sáng bên trong cấu trúc sử dụng hệ thống sợi quang. Đối với tế bào nhiên liệu, các đối tượng được giảm thuế là tế bào nhiên liệu có dung lượng tối thiểu là 0,5 KW và hiệu suất sản xuất điện tối thiểu là 30%. Mức giảm thuế tương đương 30% chi phí với mức trần 1.500 USD/0,5KW. Các hệ thống năng lượng như hệ thống địa nhiệt, microturbines và hệ thống kết hợp làm nóng và điện nếu đủ điều kiện sẽ được giảm thuế tương đương 10% chi phí mà không có giới hạn tối đa.
Điều 1603 Luật phục hồi và tái đầu tư năm 2009 quy định về cơ chế hoàn lại một phần chi phí của tài sản năng lượng thay vì hưởng cơ chế giảm thuế đầu tư năng lượng cấp Liên bang như được quy định tại Điều 48 Bộ luật ngân sách. Như vậy người nộp thuế chỉ được chọn một trong hai cơ chế, chứ không được hưởng cùng một lúc hai cơ chế. Theo cơ chế hoàn lại chi phí, người nộp thuế đủ điều kiện được hưởng cơ chế giảm thuế đầu tư năng lượng cấp Liên bang có quyền làm thủ tục để hưởng cơ chế hoàn lại chi phí thay vì cơ chế giảm thuế. Mức hoàn lại chi phí là 30% chi phí đối với hệ thống năng lượng mặt trời, tế bào nhiên liệu và hệ thống năng lượng gió quy mô nhỏ… Đối với hệ thống địa nhiệt, microturbines và hệ thống kết hợp làm nóng và điện nếu đủ điều kiện thì mức hoàn lại là 10% chi phí. Để được hoàn lại các tài sản này phải đang được sử dụng trong năm 2009, 2010 hoặc được sử dụng sau năm 2010 nhưng trước thời hạn giảm thuế (trong khoảng từ 01/01/2013 đến 01/01/2017 tùy loại tài sản) nhưng các tài sản này phải được bắt đầu xây dựng trong năm 2009 hoặc 2010.
Luật tạo việc làm năm 2004 có quy định về giảm thuế cho các hoạt động sản xuất trong nước trong thời hạn 05 năm. Hiện nay tỷ lệ giảm thuế bằng 9% thu nhập từ hoạt động sản xuất trong nước hoặc thu nhập chịu thuế tùy theo mức nào thấp hơn nhưng không vượt quá 50% tổng mức lương W-248 mà người nộp thuế phải chi trả. Thu nhập từ hoạt động sản xuất trong nước là khoản chênh lệch giữa doanh thu từ hoạt động sản xuất trong nước trên tổng chi phí của hàng hóa được bán phân bổ cho khoản doanh thu này, các khoản giảm trừ, các chi phí, thiệt hại phân bổ trực tiếp cho khoản doanh thu này và tỷ lệ các khoản giảm trừ, chi phí và thiệt hại không phân bổ trực tiếp cho khoản doanh thu này hoặc các khoản thu nhập khác. Doanh thu từ các hoạt động sản xuất trong nước phát sinh từ: (1) Hoạt động cho thuê, li-xăng, bán, trao đổi hoặc định đoạt khác đối với: (i) Các tài sản đủ điều kiện được sản xuất, tạo ra, phát triển hoặc chiết xuất toàn bộ hoặc một phần đáng kể trên lãnh thổ Hoa Kỳ bởi người nộp thuế;
(ii) Các phim đủ điều kiện được sản xuất bởi người nộp thuế; hoặc
(iii) Điện, gas tự nhiên hoặc nước sạch sản xuất tại Hoa Kỳ bởi người nộp thuế; (2) Hoạt động xây dựng trên lãnh thổ Hoa Kỳ; (3) Các hoạt động tư vấn kỹ thuật hoặc dịch vụ kiến trúc được thực hiện trên lãnh thổ Hoa Kỳ để thực hiện các dự án xây dựng trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Cần lưu ý rằng doanh thu phát sinh từ hoạt động: (1) Bán thực phẩm và đồ uống được chuẩn bị bởi người nộp thuế tại cơ sở bán lẻ; và (2) Chuyển tải hoặc phân phối điện, gas tự nhiên hoặc nước sạch không được coi là doanh thu từ hoạt động sản xuất trong nước.
Luật miễn giảm thuế và tạo việc làm năm 2010 có quy định về giảm thuế cho các sản phẩm gia dụng gồm máy rửa bát, máy giặt và tủ lạnh được sản xuất sau ngày 31/12/2010 (Modification and Extension of Energy Efficient Appliance Credit for Appliances Produced After 2010).
Để khuyến khích các cơ sở kinh doanh sử dụng người lao động là những cá nhân không có lợi thế (disadvantaged individuals), Nghị viện Hoa Kỳ đã xây dựng Chương trình giảm thuế nhằm tạo cơ hội việc làm (Work Opportunity Tax Credit Program - WOTC) thông qua việc ban hành các luật như Luật bảo vệ việc làm tại doanh nghiệp nhỏ năm 1996 (The Small Business Job Protection Act 1996), Luật phục hồi và tái đầu tư năm 2009 (American Recovery and Reinvestment Act of 2009). WOTC áp dụng cơ chế giảm thuế cho các cơ sở kinh doanh thuộc khối tư nhân sử dụng lao động năng lực lao động kém hoặc không có lợi thế khi xin việc như: (1) Cựu chiến binh mất khả năng lao động (disable veterans); (2) Người từng bị kết án phạm trọng tội; (3) Người cư trú trong khu vực đặc biệt bao gồm đặc khu (empowerment zone), cộng đồng tái thiết (renewal community) và địa hạt tái thiết đô thị (rural renewal county); (4) Người khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần; (5) Người nhận phiếu thực phẩm (food stamp recipient); (6) Các cựu chiến binh bị thất nghiệp; (7) Người trẻ (từ 16-24 tuổi) không đến trường hoặc có việc làm; (8) Người được hưởng trợ cấp dài hạn cho gia đình; (9) Người được hưởng trợ cấp ngắn hạn cho gia đình...
Mức giảm thuế mà người sử dụng lao động được hưởng phụ thuộc vào nhóm người lao động mà người sử dụng lao động sử dụng, mức lương trả cho những người lao động này trong năm đầu tiên, số giờ mà người lao động làm và không vượt quá mức giảm tối đa. Ví dụ: đối với người được hưởng trợ cấp dài hạn cho gia đình, mức giảm thuế được áp dụng cho người sử dụng lao động từ năm thứ hai sau khi người lao động đã làm việc ít nhất 400 giờ. Người sử dụng lao động có quyền yêu cầu giảm tương ứng 9.000 USD trong hai năm như sau: (1) 40% tổng lương năm đầu tiên, với mức giảm tối đa là 4.000 USD; và (2) 50% tổng lương năm thứ hai, với mức giảm tối đa là 5.000 USD49.
Các bang đều có chính sách ưu đãi thuế nhằm khuyến khích hoạt động sản xuất, kinh doanh trong những lĩnh vực nhất định. Bang California cũng xây dựng các chính sách ưu đãi thuế nhằm khuyến khích các hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực quan trọng như nghiên cứu và phát triển, sản xuất, năng lượng thay thế, phim và sản xuất truyền hình.50 Các chính sách thuế mà bang California áp dụng bao gồm chính sách giảm thuế việc làm mới nhằm khuyến khích doanh nghiệp hoạt động ở các khu vực có tỷ lệ thất nghiệp và đói nghèo cao sử dụng người lao động là những người có lợi thế cạnh tranh hạn chế trên thị trường lao động như cựu chiến binh mới giải ngũ trong thời hạn 12 tháng, người từng bị kết án về trọng tội, chính sách giảm thuế nghiên cứu và phát triển, chính sách miễn thuế bán và sử dụng đối với các thiết bị sản xuất cơ bản, chính sách miễn thuế bán và sử dụng cho các nhà sản xuất sản phẩm giao thông, các bộ phận hoặc hệ thống giao thông tiên tiến hoặc thay thế...
2. Chính sách hỗ trợ tài chính
Các chính sách tài chính chủ yếu là các chính sách cho vay ưu đãi, phát hành trái phiếu không chịu thuế nhằm khuyến khích các chủ thể kinh doanh đầu tư, kinh doanh vào nghiên cứu và phát triển, năng lượng sạch... Cả cấp Liên bang và cấp bang đều có các chính sách ưu đãi tài chính.
Chương trình bảo lãnh vay vốn trong lĩnh vực năng lượng sạch (Energy Department’s Loan Guarantee Program - LGP) có căn cứ pháp lý tại Điều 1703 và Điều 1705 Luật chính sách năng lượng năm 2005. Theo đó, Bộ Năng lượng (Department of Energy) bảo lãnh các khoản vay vốn hỗ trợ các hoạt động tiên phong sử dụng công nghệ tiên tiến trong thương mại nếu như có căn cứ xác định rằng người vay có khả năng trả nợ.
Ngoài ra, Điều 136 Luật độc lập và an toàn năng lượng (Energy Independence and Security Act of 2007) cho phép Bộ Năng lượng trực tiếp cho vay để phát triển các phương tiện công nghệ tiên tiến và các bộ phận kèm theo. Tổng giá trị quỹ cho vay là 25 tỷ USD Hoa Kỳ và hiện nay đã cấp vốn từ 50 triệu USD đến 5,9 tỷ USD.
Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ (Exim Bank) là một tổ chức tín dụng nhà nước của Hoa Kỳ. Nhiệm vụ chính của Exim Bank là hỗ trợ tài chính cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Hoa Kỳ ra thị trường thế giới. Trên thực tế, Exim Bank không cạnh tranh với các định chế tài chính tư nhân mà chỉ lấp khoảng trống tín dụng xuất khẩu đầy rủi ro mà các định chế tài chính tư nhân không làm. Sự hỗ trợ tín dụng của Exim Bank góp phần giúp cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ từ nhỏ đến lớn biến cơ hội xuất khẩu thành hiện thực nhằm tạo nhiều việc làm và phát triển nền kinh tế quốc gia52. Các sản phẩm tài chính mà Exim Bank cung cấp cho các doanh nghiệp xuất khẩu là bảo lãnh vốn lưu động, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh vay vốn và cho vay trực tiếp.
Chương trình hỗ trợ tài chính cho thủy sản (Fisheries Finance Program - FFP) thuộc Bộ Thương mại cung cấp các khoản vay trực tiếp cho ngành thủy sản. FFP cung cấp khoản vay dài hạn để tạo vốn xây dựng và xây dựng lại các tàu đánh cá, các cơ sở thủy sản và mua hạn ngạch đánh cá cá nhân tại Northwest Halibut/ Sablefish Fishery.
Chương trình phát triển năng lượng nông nghiệp USDA được quản lý bởi Bộ Nông nghiệp có căn cứ pháp lý là Luật về thực phẩm, bảo vệ môi trường và năng lượng năm 2008. Chương trình cung cấp nguồn vốn cho các dự án nghiên cứu về năng lượng, cải tiến hiệu quả sử dụng năng lượng và thiết lập các hệ thống năng lượng tái tạo. Chương trình được chia thành bốn chương trình nhỏ là: (1) Chương trình hỗ trợ cơ sở tinh chế sinh học (Biorefinery Assistance Program) cung cấp các bảo lãnh vay vốn cho các dự án phát triển, xây dựng và cải tiến các cơ sở tinh lọc sinh học thương mại; (2) Chương trình hỗ trợ thay thế nhiên liệu (Repowering Assistance Program) thanh toán cho các cơ sở tinh chế sinh học đủ điều kiện để thay thế nhiên liệu than đá bằng nhiên liệu sinh khối tái tạo (renewable biomass); (3) Chương trình thanh toán cho nhiên liệu sinh học tiên tiến (Advanced Biofuel Payment Program) thanh toán cho các nhà sản xuất để hỗ trợ và mở rộng sản xuất nhiên liệu sinh học được tinh chế từ các nguồn ngoài hạt nhân ngũ cốc; (4) Chương trình năng lượng nông nghiệp cho Hoa Kỳ (Rural Energy for America Program) cung cấp các hỗ trợ cho các nhà sản xuất nông nghiệp và các doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn để hoàn thiện các dự án bao gồm hệ thống năng lượng tái tạo, cải tiến hiệu quả sử dụng năng lượng, phát triển năng lượng tái tạo, nghiên cứu năng lượng.
Văn phòng phát triển thương mại Hoa Kỳ (United States Trade and Development Agency - USTDA) là cơ quan hỗ trợ quốc tế được thành lập và hoạt động theo Điều 661 Luật hỗ trợ nước ngoài năm 1961. USTDA hỗ trợ các công ty tạo công ăn việc làm cho người Hoa Kỳ bằng việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trong các dự án phát triển được ưu tiên ở các nước mới nổi. USTDA kết nối các doanh nghiệp với cơ hội xuất khẩu thông qua hỗ trợ tài chính cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại và hệ thống thương mại tự do ở các nước đối tác của Hoa Kỳ. Chương trình của USTDA có trách nhiệm tạo ra 25 tỷ USD xuất khẩu vào thị trường mới nổi hỗ trợ 110.000 việc làm cho người Hoa Kỳ trong vòng 10 năm qua. Nghĩa là cứ 1 USD của Chương trình tạo ra 76 USD xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.
Chương trình hỗ trợ điều chỉnh thương mại cho doanh nghiệp (Trade Adjustment Assistance - TAA) là chương trình Liên bang do Bộ Thương mại thực hiện các hỗ trợ tài chính cho các nhà sản xuất bị ảnh hưởng bởi hoạt động nhập khẩu. Theo đó, Chương trình hỗ trợ 50% chi phí chi trả cho các nhà tư vấn và các chuyên gia cho các dự án nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Ủy ban Thương mại quốc tế (International Trade Commission
- ITC) thuộc Bộ Thương mại hợp tác với nhóm ngành sản xuất
- kinh doanh (phi lợi nhuận) như các hiệp hội thương mại, các phòng thương mại… triển khai Chương trình hợp tác phát triển thị trường (Market Development Cooperator Program - MDCP). Theo đó, Chương trình tài trợ tài chính và kỹ thuật cho các nhóm ngành sản xuất - kinh doanh thực hiện các dự án nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành sản xuất - kinh doanh của Hoa Kỳ trên toàn cầu. Nhìn chung, các dự án này phải là có tính đột phá (innovative projects). Nhóm ngành sản xuất - kinh doanh bảo đảm chi trả tối thiểu 2/3 chi phí của dự án và duy trì dự án sau khi Chương trình tài trợ MDCP kết thúc. Từ năm 1997 đến năm 2014, trung bình, cứ 1 USD tài trợ tạo ra 335 USD xuất khẩu54. Mỗi dự án được tài trợ tối đa 300.000 USD.
Viện Y tế Quốc gia (National Institutes of Health - NIH) triển khai Chương trình nghiên cứu cải tiến kỹ thuật cho doanh nghiệp nhỏ (Small Business Innovation Research - SBIR) và Chương trình chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ (Small Business Technology Transfer - STTR) là những nguồn tài trợ lớn nhất về vốn ban đầu cho các doanh nghiệp công nghệ của Hoa Kỳ.
Các Chương trình này giúp các doanh nghiệp nhỏ Hoa Kỳ tham gia vào các chương trình nghiên cứu và phát triển có tiềm năng thương mại hóa cao. Trong năm tài khóa 2015, SBIR và STTR đầu tư 780 triệu USD vào các công ty về y tế mới thành lập tạo ra các công nghệ mới phù hợp với mục tiêu hoạt động của NHI là nâng cao sức khỏe và cuộc sống an toàn55. Mục tiêu của các Chương trình này là đưa các công nghệ tiên tiến vào khu vực tư nhân từ các hợp tác chiến lược công tư nhằm bảo vệ người tiêu dùng.
Ngoài ra, Bộ Năng lượng, Bộ Nông nghiệp và các cơ quan chuyên ngành khác có nhiều quỹ khác hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu và phát triển khoa học, công nghệ liên quan đến an ninh năng lượng, môi trường, nông nghiệp, sinh vật, công nghệ sinh học...
Tại New York, doanh nghiệp phát triển cơ sở ở xưởng sửa chữa tàu hoặc phát triển cơ sở tái chế chất thải cứng có thể phát hành trái phiếu được miễn thuế (triple tax-exempt bond). Thành phố New York hỗ trợ tối đa 50.000 USD cho các nhà sản xuất nhỏ và vừa để nâng cao hiệu quả sản xuất; ngoài ra, Chương trình bảo lãnh vay vốn (Capital Access Loan Guaranty Program
- CALGP) cung cấp sản phẩm bảo lãnh tối đa 50% vốn vay cho các doanh nghiệp siêu nhỏ (dưới 20 lao động) và nhỏ (20-100 lao động) là những doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay.
3. Các chính sách hỗ trợ khác
Ngoài các ưu đãi thuế và tài chính, Chính phủ Liên bang và các bang còn có các chương trình ưu đãi khác nhằm hỗ trợ doanh nghiệp như các chương trình hợp tác, tư vấn…; dưới đây, chúng tôi trình bày một số chương trình hỗ trợ doanh nghiệp được thực hiện ở cấp Liên bang.
3.1 Hỗ trợ kỹ thuật và thông tin khoa học cho các nhà khoa học và các nhà tư vấn kỹ thuật
Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ - Bộ Thương mại cung cấp dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và thông tin khoa học cho các nhà khoa học và các nhà tư vấn kỹ thuật để giải quyết các vấn đề kỹ thuật, nghiên cứu và phát triển. Sản phẩm bao gồm các dữ liệu tham chiếu về tiêu chuẩn (Standard Reference Data - SRD), dịch vụ đo lường và tài liệu tham chiếu tiêu chuẩn (Standard Reference Materials - SRMs). Chương trình của Trung tâm Doanh nghiệp của Người bản xứ Hoa Kỳ (The Native American Business Enterprise Center - NABEC) cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho người bản xứ Hoa Kỳ và doanh nghiệp của người thiểu số (Minority Business Enterprise - MBE). Khách hàng là những doanh nghiệp có doanh thu hàng năm trên 500.000 USD và/hoặc có tiềm năng phát triển nhanh.
3.2 Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương trình hợp tác mở rộngsản xuất Hollings (Manufactur- ing Extension Partnership - MEP) là một hệ thống gồm 60 trung tâm trên khắp nước Hoa Kỳ với hàng nghìn chuyên gia có nhiệm vụ hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chương trình tập trung vào phạm vi là phát triển công nghệ, phát triển nhà cung cấp, phát triển bền vững, nhân lực và cải tiến. MEP hỗ trợ các nhà sản xuất phát triển khách hàng mới, mở rộng thị trường và tạo sản phẩm mới có tính cạnh tranh và có lợi nhuận
3.3 Hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ
Trung tâm hỗ trợ xuất khẩu Hoa Kỳ (United States Export Assistance Centers - USEACs) thuộc Bộ Thương mại Hoa Kỳ hỗ trợ các dịch vụ xúc tiến xuất khẩu cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ. USEACs hỗ trợ các nhà xuất khẩu Hoa Kỳ phát triển các chương trình tài trợ tài chính cho xuất khẩu và chương trình bảo hiểm xuất khẩu, giúp các nhà xuất khẩu hoàn thiện các giao dịch xuất khẩu. USEACs kết nối doanh nghiệp Hoa Kỳ với các thị trường quốc tế. Trong quá trình hỗ trợ các nhà xuất khẩu, USEACs phối hợp rất hiệu quả với Cục Doanh nghiệp Nhỏ (Small Business Administration - SBA) và Exim Bank. Ngoài ra, Trung tâm Thông tin Thương mại (Treasury International Capital - TIC) và Chương trình phát triển thương mại (International Trade Administration
- ITA) thuộc Bộ Thương mại cũng hỗ trợ rất tích cực và tư vấn cho các nhà xuất khẩu Hoa Kỳ về thị trường quốc tế, phát triển hoạt động xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra thị trường quốc tế.
Các trung tâm hợp tác giữa các trường đại học và các ngành công nghiệp (Industry/University Cooperative Research Centers
- I/UCRC) là một chương trình phát triển sự hợp tác lâu dài giữa các ngành sản xuất - kinh doanh, cơ sở hàn lâm và Chính phủ. Các trung tâm được tài trợ một phần bởi Viện Khoa học Quốc gia (National Science Foundation - NSF) và phần lớn từ các thành viên của trung tâm, hoạt động dưới sự hỗ trợ về khoa học của NSF. Mỗi trung tâm phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động của mình thực hiện các nghiên cứu vì lợi ích của cả các thành viên thuộc khu vực sản xuất - kinh doanh và giới hàn lâm. Mỗi I/UCRC đóng góp vào việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho nghiên cứu và nâng cao năng lực của đội ngũ kỹ thuật và khoa học từ sự kết hợp giữa nghiên cứu và giáo dục
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê