1. Khái quát một số quy định thể hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử
Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về trình tự xét hỏi còn đặt nặng trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Hội đồng xét xử, cụ thể Điều 207 quy định: “Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa”. Hơn nữa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định cho Hội đồng xét xử xét hỏi trước và xét hỏi chủ yếu tại phiên tòa là không phù hợp với nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Việc ai hỏi trước, ai hỏi sau là do Chủ tọa phiên tòa điều hành việc xét hỏi quyết định cho phù hợp với từng vụ án và diễn biến cụ thể tại các phiên tòa xét xử. Khắc phục hạn chế này, để thể hiện việc tranh tụng được thực hiện ngay trong phần xét hỏi tại phiên tòa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung theo hướng Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người. Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý. Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi (Điều 307). Đồng thời, Bộ luật còn bổ sung quy định khi được Chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo được đặt câu hỏi với bị cáo khác, hỏi người làm chứng, hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ về các vấn đề có liên quan đến bị cáo (các điều 309, 310 và 311). Sửa đổi theo hướng này để tạo ra một cơ chế thực sự dân chủ và bình đẳng tại phiên tòa, tạo điều kiện để thực hiện một cách có hiệu quả nhất quyền buộc tội và gỡ tội tại phiên tòa.
Ngoài ra, để phục vụ cho việc tranh tụng, làm sáng rõ các tình tiết của vụ án tại phiên tòa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được bổ sung quy định về việc sử dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật tại phiên tòa, cụ thể là trường hợp cần kiểm tra chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án hoặc khi bị cáo tố cáo bị bức cung, dùng nhục hình, Hội đồng xét xử quyết định việc cho nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh liên quan tại phiên tòa (Điều 313); trường hợp cần thiết, Tòa án quyết định hỏi người làm chứng qua mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 311).
2. Quy định về trình tự xét hỏi
Trình tự xét hỏi tại phiên tòa được quy định tại điều 307 BLTTHS năm 2015:
“1. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người. Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự họp lý.
2. Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.
Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ.
Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản.
3. Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét vật chứng có liên quan trong vụ án.”
- Theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý. Đây là điểm mới của BLTTHS năm 2015, quy định này được đánh giá là phù hợp với từng vụ án và diễn biến cụ thể tại các phiên tòa xét xử, bảo đảm cho hoạt động tranh tụng được thực hiện ngay trong phần xét hỏi tại phiên tòa.
- Khi xét hỏi từng, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán (trường hợp Hội đồng 3), Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.
- Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị Chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản. Quy định này có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo điều kiện dân chủ, bình đẳng trong việc thực hiện việc chứng minh của bị cáo trong xét hỏi; xác định sự toàn diện, đầy đủ, khách quan nội dung vụ án, tránh oan sai, đảm bảo xét xử đúng quy định của pháp luật.
3. Quy định về hỏi bị cáo
Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Tư cách bị cáo kể từ thời điểm Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị can trở thành bị cáo.
Theo quy định hiện hành, thì khi hỏi bị cáo, Hội đồng xét xử phải hỏi riêng từng bị cáo. Nếu lời khai của bị cáo này có thể ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo khác thì chủ toạ phiên toà phải cách ly họ. Bị cáo bị cách ly được thông báo lại nội dung lời khai của bị cáo trước và có quyền đặt câu hỏi với bị cáo đó (khoản 1 Điều 309 BLTTHS 2015).
Theo quy định tại khoản 2 Điều 309 BLTTHS, thì trước khi hỏi bị cáo, chủ toạ phiên toà phải để bị cáo trình bày ý kiến của họ về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án, sau đó Hội đồng xét xử mới hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc còn mâu thuẫn. Quy định là như vậy, nhưng thực tiễn xét xử rất ít khi chủ toạ phiên toà để bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án, vì sợ rằng làm như vậy sẽ mất thời gian, có bị cáo cầm bản cáo trạng trong tay đọc từng đoạn rồi có ý kiến về những tình tiết mà bản cáo trạng nêu, có khi mất cả giờ đồng hồ, nếu cứ để bị cáo trình bày theo ý của họ thì có khi cả buổi cũng không xong. Do đó, các Toà án thường đặt câu hỏi ngay đối với bị cáo khi bắt đầu việc xét hỏi, nếu có bị cáo nào muốn trình bày quan điểm của mình về bản cáo trạng thì thường được chủ toạ phiên toà giải thích rằng: “bị cáo trả lời thẳng vào câu hỏi của toà, còn những vấn đề cần trình bày sẽ được trình bày trong phần tranh luận”.
Để bảo đảm đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến thời gian xét xử, chủ toạ phiên toà chỉ để bị cáo trình bày về những vấn đề cơ bản như: tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát truy tố hoặc bị cáo đồng ý hay không đồng ý với kết luận của bản cáo trạng, còn các tình tiết cụ thể của bản cáo trạng bị cáo có thể trình bày khi trả lời những câu hỏi của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền lợi của đương sự.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 309 BLTTHS, thì Kiểm sát viên hỏi về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội bị cáo và những tình tiết khác của vụ án. Nếu chỉ quy định cho Kiểm sát viên hỏi về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội bị cáo và những tình tiết khác của vụ án là chưa thể hiện tinh thần cải cách tư pháp, mà BLTTHS nên quy định Kiểm sát viên hỏi bị cáo về những cáo buộc đã được thể hiện trong bản cáo trạng, vì tại phiên tòa Kiểm sát viên có nhiệm vụ bảo vệ cáo trạng nên Kiểm sát viên cần hỏi kỹ bị cáo về các tình tiết của vụ án. Chủ tọa phiên tòa chỉ hỏi bị cáo về những nội dung cơ bản, mà bị cáo trình bày chưa hết, chưa rõ.
4. Quy định về hỏi bị hại
Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.
Ví dụ: Anh A đánh anh B bị gãy tay, trong trường hợp này anh B là người bị thiệt hại trực tiếp về thể chất do việc anh A đánh gây ra. Trong trường hợp này, anh B chính là người bị hại.
Việc xét hỏi bị hại đòi hỏi chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên và người bảo vệ quyền lợi của bị hại phải căn cứ vào khoản 2 Điều 62 BLTTHS quy định về các quyền của bị hại.
Theo Điều 310 BLTTHS 2015:
"Bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ trình bày những tình tiết của vụ án có liên quan đến họ. Sau đó, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.
Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có thể hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ về các vấn đề có liên quan đến bị cáo.”
Như vậy, sau khi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người đó trình bày những gì họ biết về những tình tiết liên quan đến vụ án có liên quan đến họ, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự theo thứ tự luật định hỏi thêm họ về những điểm mà họ trình bày chưa đủ hoặc có mâu thuẫn. Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có thể hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ về các vấn đề có liên quan đến bị cáo.
Tuy nhiên, ngoài những tình tiết liên quan, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người đó còn có thế biết các tình tiết khác của vụ án. Trong trường hợp này họ vẫn có thể khai báo với tư cách là người làm chứng trong vụ án.
5. Quy định về hỏi người làm chứng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 66 BLTTHS 2015, thì người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.
Khi xác định người làm chứng, Cơ quan tiến hành tố tụng cần phân biệt với người chứng kiến là người được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTHS.
Điều kiện cần và đủ để một người trở thành người làm chứng là người đó phải là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng. Nếu thiếu một trong hai điều kiện này thì dù họ có biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm cũng không thể là người làm chứng.
Khi xét hỏi người làm chứng, Hội đồng xét xử phải hỏi riêng từng người làm chứng và không để cho những người làm chứng khác biết được nội dung xét hỏi đó. Theo quy định này thì việc cách ly người làm chứng là một việc làm bắt buộc chứ không phải như BLTTHS 2003.
Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có thể hỏi trực tiếp người làm chứng về các vấn đề mà họ khai có liên quan đến bị cáo.
Sau khi đã trình bày xong, người làm chứng ở lại phòng xử án để có thể được hỏi thêm.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)