1. Mức phạt CTCP phát hành trái phiếu không công bố thông tin định kỳ đối với thông tin phải công bố 

Theo quy định tại Điều 42 Nghị định 156/2020/NĐ-CP thì việc phạt tiền có thể lên đến mức từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng cho những hành vi vi phạm cụ thể:

- Không tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam, và các công ty con, như quy định tại khoản 3 Điều 120, khoản 4 Điều 123, và khoản 3 Điều 124 trong Luật Chứng khoán năm 2019. Điều này áp dụng cho trường hợp không tuân thủ việc công bố thông tin quan trọng theo đúng thời gian hoặc theo hình thức quy định.

- Không thực hiện việc xác nhận hoặc điều chỉnh thông tin, hoặc xác nhận và điều chỉnh thông tin trước hạn mà pháp luật đề ra, khi có thông tin có khả năng tác động đến giá trị của chứng khoán. Điều này cũng bao gồm việc không tuân thủ thời hạn cho việc xác nhận hoặc điều chỉnh thông tin, khi nhận được yêu cầu từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam, và các công ty con, như quy định tại khoản 3 Điều 120, khoản 4 Điều 123, và khoản 3 Điều 124 trong Luật Chứng khoán.

Bên cạnh đó, tại Điều 121 Luật Chứng khoán năm 2019 thì tổ chức phát hành trái phiếu ra công chúng phải tuân thủ quy định công bố thông tin định kỳ về một loạt nội dung quan trọng, nhằm đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm. Cụ thể:

- Phải công bố Báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận, một tài liệu quan trọng để giám sát tình hình tài chính của tổ chức phát hành và đánh giá sự ổn định và khả năng thanh toán của họ.

- Cần phải đảm bảo rằng Báo cáo thường niên được công bố, đồng thời đưa ra thông tin về tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành trái phiếu, giúp cổ đông và người quan tâm hiểu rõ hơn về hoạt động kinh doanh của họ.

- Trong trường hợp tổ chức phát hành là một công ty cổ phần, cần công bố Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên. Thông qua nghị quyết này, cổ đông quyết định về các vấn đề quan trọng của tổ chức, thể hiện tính dân chủ và quyền lựa chọn của cổ đông.

- Báo cáo về việc sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán trái phiếu cũng cần được kiểm toán để đảm bảo tính minh bạch và chắc chắn rằng các nguồn tài chính này được sử dụng một cách có hiệu quả và hợp lý.

- Ngoài những nội dung nêu trên, tổ chức phát hành trái phiếu cần tuân theo các quy định của pháp luật liên quan đến thông tin và tiết lộ khác mà có thể áp dụng cho trường hợp cụ thể của họ. Điều này đảm bảo tính toàn vẹn và tuân thủ pháp luật trong quá trình quản lý và phát hành trái phiếu.

Đối chiếu với quy định tại Điều 5 Nghị định 156/2020/NĐ-CP và Điều 1 Nghị định 128/2021/NĐ-CP thì dựa trên quy định nêu trên, ta có thể hiểu rằng nếu một công ty cổ phần phát hành trái phiếu ra công chúng không tuân theo nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ, họ sẽ đối diện với khả năng bị áp đặt mức phạt tài chính trong khoảng từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong quá trình phát hành trái phiếu, đặc biệt khi tương tác với công chúng và những nhà đầu tư tiềm năng. Việc tuân thủ các quy định liên quan đến thông tin và tiết lộ là một phần quan trọng trong việc đảm bảo sự tin cậy và uy tín của công ty trên thị trường tài chính.

2. Thời hiệu xử phạt CTCP phát hành trái phiếu không công bố thông tin định kỳ đối với thông tin phải công bố

Tại Điều 6 Nghị định 156/2020/NĐ-CP và Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 thì thời hiệu xử phạt mặc định cho việc xử lý vi phạm hành chính là 01 năm. Tuy nhiên, sẽ có những ngoại lệ đối với một số trường hợp cụ thể:

Các vi phạm liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như kế toán, hóa đơn, phí phạm, kinh doanh bảo hiểm, quản lý giá, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, xây dựng, thủy sản, lâm nghiệp, điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước, hoạt động dầu khí, và hoạt động khai thác khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý và phát triển nhà cửa và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm và hàng giả; và quản lý lao động ngoài nước. Đối với những trường hợp này, thời hạn xử phạt vi phạm hành chính kéo dài lên đến 02 năm. Vi phạm hành chính liên quan đến thuế sẽ tuân theo quy định của pháp luật về quản lý thuế để xác định thời hạn xử phạt.

Theo quy định này, chúng ta có thể hiểu rằng việc xử phạt vi phạm hành chính đối với một công ty cổ phần phát hành trái phiếu mà không tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ sẽ áp dụng trong khoảng thời gian lên đến 02 năm. Điều này là một phần quan trọng của việc đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm trong quản lý thông tin của công ty, đặc biệt khi tương tác với cộng đồng đầu tư và công chúng. Tuân thủ các quy định về thông tin và tiết lộ là một yếu tố quan trọng để đảm bảo uy tín và sự tin cậy của công ty trên thị trường tài chính.

3. Thẩm quyền xử phạt CTCP phát hành trái phiếu không công bố thông tin định kỳ đối với thông tin phải công bố

Chánh Thanh tra của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước được ủy quyền với nhiều quyền hạn quan trọng, bao gồm:

- Chánh Thanh tra và Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đề cao tầm quan trọng của việc đảm bảo tuân thủ quy tắc và luật pháp trong lĩnh vực chứng khoán. Họ có thẩm quyền cảnh cáo các tổ chức và cá nhân khi xác định rằng đã xảy ra vi phạm luật. Cảnh cáo là một biện pháp cảnh báo quan trọng để nâng cao ý thức và tuân thủ pháp luật trong cộng đồng chứng khoán.

- Ngoài việc cảnh cáo, Chánh Thanh tra và Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành có quyền áp đặt mức phạt tối đa đối với các tổ chức và cá nhân vi phạm. Mức phạt này có thể lên đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức và 50.000.000 đồng đối với cá nhân. Điều này giúp đảm bảo tính công bằng và trách nhiệm trong việc xử lý vi phạm, đồng thời tạo ra sự thúc đẩy để tuân thủ quy định chứng khoán.

- Ngoài những biện pháp kỷ luật trên, Chánh Thanh tra và Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cũng có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động và chứng chỉ hành nghề chứng khoán theo quy định tại Khoản 3 Điều 30 và Khoản 3 Điều 32 của Nghị định này. Điều này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng hoạt động của tổ chức hoặc cá nhân vi phạm và đánh đốn tới uy tín và tín nhiệm trong ngành chứng khoán.

- Chánh Thanh tra và Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng có quyền tạm ngừng hoạt động giao dịch chứng khoán theo quy định tại Khoản 1 của Điều 34 trong Nghị định này. Tạm ngừng hoạt động này có thể được áp dụng trong trường hợp nghi ngờ về các vi phạm nghiêm trọng đối với quy tắc và luật pháp chứng khoán. Điều này giúp đảm bảo rằng các vi phạm sẽ được kiểm tra một cách cẩn thận và rõ ràng trước khi quyết định cuối cùng về việc áp dụng các biện pháp kỷ luật.

- Ngoài các biện pháp kỷ luật trước đó, Chánh Thanh tra và Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành còn có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử phạt bổ sung và đề xuất các biện pháp khắc phục hậu quả, như quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 4 trong Nghị định này. Biện pháp này có thể bao gồm cả việc áp dụng các biện pháp tài chính và quản lý khác nhau để khắc phục hậu quả của vi phạm, nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong thị trường chứng khoán.

Ngoài ra, có thể tham khảo: Nên phát hành cổ phiếu hay trái phiếu khi huy động vốn cho công ty cổ phần. Còn khúc mắc, liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.