1. Người mua trái phiếu có phải là chủ nợ của công ty hay không?

Trái phiếu là một loại chứng khoán có kỳ hạn từ một năm trở lên, được phát hành bởi các tổ chức hoặc doanh nghiệp để thu hút vốn. Khi mua trái phiếu, người mua thực tế đang cung cấp vốn cho doanh nghiệp phát hành và trở thành một chủ nợ của doanh nghiệp đó. Tính chất của một trái phiếu thể hiện qua việc doanh nghiệp phải trả lại số tiền vốn gốc cùng lãi suất đã thỏa thuận cho nhà đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định.

Theo quy định của Nghị định 155/2020/NĐ-CP và các điều chỉnh sau này, trái phiếu có thể có nhiều dạng khác nhau như trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu doanh nghiệp xanh, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu có bảo đảm, và trái phiếu kèm chứng quyền. Mỗi loại trái phiếu này có điều kiện và quy định riêng biệt, nhằm phục vụ mục đích cụ thể của doanh nghiệp phát hành.

Ví dụ, trái phiếu doanh nghiệp xanh thường được sử dụng để huy động vốn cho các dự án bảo vệ môi trường, trong khi trái phiếu chuyển đổi cho phép nhà đầu tư đổi trái phiếu thành cổ phiếu của doanh nghiệp. Trong khi đó, trái phiếu có bảo đảm được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp hoặc bên thứ ba, giảm rủi ro cho nhà đầu tư.

Do đó, việc mua trái phiếu từ một doanh nghiệp là hình thức cho vay vốn của nhà đầu tư cho doanh nghiệp đó. Công ty phát hành trái phiếu có trách nhiệm trả lại vốn gốc và lãi suất theo thỏa thuận trong hợp đồng trái phiếu. Điều này tạo ra một mối quan hệ nợ nần giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư, trong đó doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trả nợ cho những người đã mua trái phiếu của mình.

Như vậy thì căn cứ dựa theo quy định về việc khách hàng mua trái phiếu từ công ty tức là đang cho công ty vay và công ty có trách nhiệm sẽ phải trả nợ gốc và lãi cho khách hàng. Trái phiếu này được coi như một giấy tờ ghi nhận nợ giữa người mua trái phiếu và công ty phát hành. Theo đó thì có thể xem người mua trái phiếu như một chủ nợ của công ty phát hành trái phiếu.

 

2. Người mua trái phiếu có nhận lại được tiền khi công ty phá sản không?

Khi một công ty phá sản, việc xác định liệu người mua trái phiếu có nhận lại được tiền hay không là một vấn đề quan trọng và phức tạp, đặc biệt là trong quy trình phân chia tài sản theo quy định của Luật Phá sản. Căn cứ vào Điều 54 của Luật Phá sản 2014, việc phân chia tài sản trong trường hợp phá sản phải tuân thủ một thứ tự cụ thể, nhằm bảo đảm tính công bằng và minh bạch trong việc giải quyết nợ.

Trước hết, khi có quyết định tuyên bố phá sản, tài sản của doanh nghiệp sẽ được phân chia theo thứ tự ưu tiên nhất định. Thứ tự này bao gồm việc thanh toán các khoản nợ ưu tiên như chi phí phá sản, khoản nợ lương, các khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, và nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.

Sau khi đã thanh toán đủ các khoản nợ ưu tiên, phần còn lại của tài sản sẽ được phân chia cho các bên còn lại theo một thứ tự ưu tiên khác. Trong đó, những người mua trái phiếu sẽ thuộc vào một trong những đối tượng nhận được thanh toán tiếp theo sau các khoản nợ ưu tiên.

Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là việc thanh toán cho những người mua trái phiếu chỉ diễn ra khi giá trị tài sản của công ty sau khi đã thanh toán đủ các khoản nợ ưu tiên vẫn còn dư. Trong trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán cho tất cả các chủ nợ, thì từng đối tượng chủ nợ sẽ được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ mà họ đang có.

Do đó, mặc dù người mua trái phiếu được xem xét là một trong các chủ nợ của công ty, nhưng việc họ nhận lại tiền trong trường hợp phá sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm giá trị tài sản còn lại và thứ tự ưu tiên phân chia tài sản theo quy định của Luật Phá sản.

Như vậy thì người mua trái phiếu chính là một trong những chủ nợ của công ty phát hành. Và khi công ty phá sản thì phải có trách nhiệm thanh toán khoản nợ đối với những người mua trái phiếu theo thứ tự quy định: 

- Chi phí phá sản

- Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết

- Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

 

3. Quy định về điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng bằng đồng Việt Nam của tổ chức tài chính quốc tế

Căn cứ dựa theo quy định tại Điều 26 của Nghị định 155/2020/NĐ-CP có quy định như sau:

Quy định về điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng bằng đồng Việt Nam của tổ chức tài chính quốc tế đặt ra một loạt các tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng và an toàn cho cả tổ chức phát hành và nhà đầu tư. Cụ thể, các điều kiện được quy định trong Điều 26 của Nghị định 155/2020/NĐ-CP là như sau:

- Tổ chức phát hành là tổ chức tài chính quốc tế: Điều này ám chỉ rằng chỉ các tổ chức tài chính quốc tế đã được quy định bởi pháp luật về các tổ chức tín dụng của quốc gia mà Việt Nam là thành viên mới có thể chào bán trái phiếu ra công chúng bằng đồng Việt Nam.

- Trái phiếu có kỳ hạn không dưới 10 năm: Điều này đảm bảo tính ổn định và lâu dài của nguồn vốn huy động thông qua trái phiếu, tạo điều kiện cho tổ chức phát hành và nhà đầu tư trong việc lập kế hoạch và đầu tư.

- Có phương án sử dụng số tiền huy động được cho các dự án tại Việt Nam: Điều này nhấn mạnh vào mục đích cụ thể của việc huy động vốn thông qua chào bán trái phiếu, đảm bảo rằng số tiền này sẽ được sử dụng hiệu quả và theo đúng mục đích đã cam kết.

- Hạn chế tổng số tiền huy động tại Việt Nam: Điều này nhằm ngăn chặn tình trạng quá mức huy động vốn từ thị trường Việt Nam, giữ cho tình hình tài chính và tài sản của tổ chức phát hành không bị áp lực quá mức.

- Cam kết đối với nhà đầu tư: Tổ chức phát hành phải cam kết về việc thực hiện đầy đủ các điều kiện và cam kết về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, đảm bảo tính minh bạch và an toàn cho họ.

- Cam kết niêm yết trái phiếu trên hệ thống giao dịch chứng khoán: Điều này đảm bảo tính thanh khoản và minh bạch của trái phiếu, giúp nhà đầu tư có thể dễ dàng mua bán và theo dõi giá trị của trái phiếu trên thị trường.  Cam kết niêm yết trái phiếu trên hệ thống giao dịch chứng khoán không chỉ là một yêu cầu pháp lý mà còn là một biện pháp quan trọng trong việc tăng cường tính thanh khoản và minh bạch của trái phiếu.

Việc niêm yết trái phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán mang lại nhiều lợi ích đối với cả tổ chức phát hành và nhà đầu tư. Một trong những lợi ích chính của việc niêm yết trái phiếu là tạo ra một thị trường phái sinh phát triển, nơi mà các nhà đầu tư có thể mua bán trái phiếu một cách dễ dàng và linh hoạt. Khi trái phiếu được niêm yết, nhà đầu tư có thể tham gia vào thị trường cung cấp và cầu cung trên nền tảng của sàn giao dịch, tạo điều kiện cho việc tìm kiếm giá tốt nhất và thực hiện giao dịch một cách hiệu quả. Điều này giúp tăng cường thanh khoản cho trái phiếu, giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc không thể bán ra trái phiếu nếu cần thiết.

Như vậy, các quy định này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mà còn tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định và hấp dẫn cho các tổ chức tài chính quốc tế muốn tham gia vào thị trường tài chính của Việt Nam. Đồng thời, chúng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và nâng cao chất lượng của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nếu như các bạn còn có những vướng mắc vui lòng liên hệ 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ chi tiết nhất có thể 

Tham khảo thêm bài viết sau đây của chúng tôi: Trái phiếu là gì? Đặc điểm, phân loại trái phiếu và phân biệt với cổ phiếu