Kính chào công ty luật Minh Khuê. Tôi tên là Bình Dương. Tôi có thắc mắc về lao động mong nhận được tư vấn từ luật sư. Về vấn đề công ty cho người lao động làm việc vượt quá thời gian tối đa mà pháp luật quy định. Cụ thể như sau: Công ty cho người lao động làm thêm giờ vượt quá thời gian quy định thì sẽ bị xử phạt như thế nào? Và căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính sẽ là do công ty đã cho người lao động làm thêm vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường trong một ngày hay căn cứ vào hành vi vượt quá 40 giờ làm việc trong 1 tháng? Hay phải vượt quá 200 giờ làm việc trong 1 năm mới được xử phạt? Mức xử phạt đối với trường hợp vượt quá thời gian làm việc theo ngày, tháng, năm có khác nhau không?

Luật sư tư vấn:

1. Cơ sở pháp lý về thời gian làm việc

- Bộ luật lao động năm 2019

- Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động quan hệ lao động

- Nghị định 12/2022/NĐ-CP

 

2. Thời gian làm việc tối đa theo pháp luật lao động 

Về thời gian làm việc bình thường Bộ luật lao động quy định như sau:

Điều 105. Thời giờ làm việc bình thường

1. Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

2. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ đối với người lao động.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đúng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và pháp luật có liên quan.

Về làm thêm giờ Bộ luật lao động quy định như sau:

Điều 107. Làm thêm giờ

1. Thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động.

2. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:

a) Phải được sự đồng ý của người lao động;

b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng;

c) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.....

Như vậy, theo quy định của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động như sau:

- Không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, nếu áp dụng chế độ làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm của người lao động sẽ không quá 12 giờ trong 01 ngày; nếu làm việc không trọn thời gian Điều 107.2 Bộ luật Lao động và Điều 60 Nghị định 145/2020/NĐ-CP thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày;

- Không quá 12 giờ trong 01 ngày khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ, Tết và ngày nghỉ hằng tuần;

- Không quá 40 giờ trong 01 tháng; và

- Tổng số giờ không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì người lao động được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm.

 

3. Mức xử phạt hành vi cho người lao động làm việc quá thời gian quy định?

Theo như trình bày ở mục 2, các điều kiện về số giờ làm thêm phải được người sử dụng lao động đảm bảo tuần thủ đồng thời và cùng lúc. Việc không tuân thủ bất kỳ điều kiện nào được nêu ở trên đều được xem là vi phạm quy định về làm thêm giờ theo quy định của Bộ luật Lao động. Ví dụ, thời gian làm việc trong 01 ngày của người lao động là 08 giờ nhưng người lao động được yêu cầu làm thêm giờ, người sử dụng lao động phải vừa đảm bảo số giờ làm thêm của người lao động không quá 04 giờ trong 01 ngày và tổng số giờ làm thêm trong cùng 01 tháng cũng không được vượt quá 40 giờ.

Về xử phạt vi phạm hành chính về thời gian làm việc được quy định tại Điều 18 Nghị định 12/2022/NĐ-CP: 

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Thực hiện thời giờ làm việc bình thường quá số giờ làm việc theo quy định của pháp luật;

b) Huy động người lao động làm thêm giờ mà không được sự đồng ý của người lao động, trừ trường hợp theo quy định tại Điều 108 của Bộ luật Lao động.

4. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: không đảm bảo cho người lao động nghỉ trong giờ làm việc hoặc nghỉ chuyển ca theo quy định của pháp luật; huy động người lao động làm thêm giờ vượt quá số giờ theo quy định của pháp luật theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 60.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Theo đó:

- Công ty thực hiện thời giờ làm việc bình thường quá số giờ làm việc theo quy định của pháp luật là sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt là 40 triệu đến 50 triệu đồng. (Căn cứ Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP mức phạt đối với tổ chức là gấp đôi)..

- Công ty huy động người lao động làm thêm giờ vượt quá số giờ theo quy định (dù là trong ngày/trong tháng hay trong năm) thì sẽ bị áp dụng mức phạt tương ứng với số người lao động mà công ty đã thực hiện hành vi vi phạm: ví dụ: 1-10 người thì mức phạt là 10 triệu đến 20 triệu đồng.

Như vậy, mức xử phạt đối với hành vi vi phạm về thời giờ làm việc bình thường sẽ căn cứ theo quy định của Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

Mức xử phạt đối với hành vi huy động làm thêm giờ quá số giờ quy định chỉ khác nhau trên cơ sở số người lao động bị vi phạm.,

 

4. Có thể quy định thời giờ làm việc cố định là 12 giờ/ngày không quá 48 giờ/tuần không?

Điều 105 Bộ luật lao động 2019 quy định như sau:

Điều 105. Thời giờ làm việc bình thường

1. Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

2. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ đối với người lao động.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đúng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và pháp luật có liên quan.

Theo đó, thời giờ làm việc bình thường của người lao động sẽ không được vượt quá 08 giờ/01 ngày và 48 giờ/01 tuần. Nếu người sử dụng lao động quy định giờ làm việc theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường sẽ không quá 10 giờ/01 ngày, nhưng không quá 48 giờ/01 tuần. Do đó, việc quy định thời giờ làm việc của người lao động là 12 giờ/ngày là chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Lao động. Nếu người sử dụng lao động có yêu cầu người lao động làm việc nhiều hơn so với thời gian làm việc bình thường (12 giờ/ngày), người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả thêm tiền lương làm thêm giờ cho người lao động trong những giờ làm việc phát sinh thêm.

Trên thực tế, các quy định về làm thêm giờ của Bộ luật Lao động thường mang tính linh hoạt và nhằm mục đích hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết nhu cầu sản xuất, kinh doanh trong những lúc cao điểm. Vì vậy, kể cả nếu người sử dụng lao động có chấp nhận chi trả tiền lương làm thêm giờ cho người lao động, người sử dụng lao động vẫn không thể quy định thời gian làm việc 12 giờ/ngày như một khung giờ làm việc bình thường cố định và thường xuyên của người lao động. Bởi lẽ, khi sắp xếp và bố trí làm thêm giờ, người sử dụng lao động phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

- Được sự đồng ý của người lao động;

- Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, nếu áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm của người lao động cũng không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng; và

- Đảm bảo số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm.

 

5. Công ty có quyền tự quyết định tăng thời gian làm việc bình thường cho người lao động không?

Theo quy định của Bộ luật Lao động, thời gian làm việc bình thường của người lao động là không quá 48 giờ/01 tuần. Như vậy, nếu ban đầu người sử dụng lao động chỉ yêu cầu người lao động làm việc 40 giờ/01 tuần theo hợp đồng lao động nhưng sau đó vì nhu cầu công việc nên người sử dụng lao động muốn tăng số thời gian làm việc của người lao động lên 44 giờ/01 tuần thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương quyết định việc thay đổi này không hay phải được sự đồng ý trước của từng người lao động?

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong mối quan hệ lao động, trong đó bao gồm cả nội dung thỏa thuận về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi. Trong trường hợp này, người lao động và người sử dụng lao động đã thỏa thuận và ghi nhận thời giờ làm việc của người lao động là 40 giờ/01 tuần trong hợp đồng lao động và quy định này không trái với quy định của Bộ luật Lao động vì tạo sự thuận lợi hơn cho người lao động, cho nên, về mặt nguyên tắc, người lao động và người sử dụng lao động phải thực hiện nội dung đã thỏa thuận theo hợp đồng lao động. Nếu vì nhu cầu công việc mà người sử dụng lao động muốn tăng thời gian làm việc của người lao động lên 44 giờ/01 tuần thì người sử dụng lao động phải được sự đồng ý của từng người lao động. Tùy từng trường hợp mà người sử dụng lao động lưu ý thực hiện các bước sau đây:

- Nếu nhu cầu thay đổi thời giờ làm việc của người sử dụng lao động là chỉ trong một khoảng thời gian ngắn để đảm bảo xử lý kịp thời công việc thì người sử dụng lao động phải thỏa thuận với người lao động về việc làm thêm giờ trong trường hợp này. Khi người lao động đồng ý với việc tăng thời giờ làm việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động, người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả cho người lao động tiền lương làm thêm giờ theo quy định tại Điều 98 Bộ luật Lao động đối với số giờ làm thêm ngoài thời giờ làm việc bình thường đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Lưu ý thêm rằng, người sử dụng lao động phải đảm bảo rằng tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm của người lao động sẽ không quá 12 giờ/01 ngày, không quá 40 giờ/01 tháng và không quá 200 giờ/01 năm (trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì người lao động được làm thêm giờ không quá 300 giờ/01 năm); và

- Nếu việc thay đổi thời giờ làm việc mang tính dài hạn thì người sử dụng lao động phải thỏa thuận với người lao động để sửa đổi hợp đồng lao động bằng phụ lục hợp đồng lao động và việc sửa đổi này phải được báo trước cho người lao động ít nhất là 03 ngày làm việc.

Từ những phân tích được nêu ở trên có thể thấy rằng, trong mọi trường hợp mà người sử dụng lao động phải tăng thời giờ làm việc của người lao động lên 44 giờ/01 tuần theo nhu cầu công việc thay vì 40 giờ/01 tuần như đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động thì đều phải được sự chấp thuận trước của người lao động.

Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về một số vấn đề pháp luật lao động. Bạn đọc có bất cứ vướng mắc nào trong lĩnh vực lao động vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Luật Minh Khuê (Tổng hợp và phân tích)