1. Quy chế pháp lý dân sự của người nước ngoài ở Việt Nam

Nội dung quy chế pháp lý dân sự của người nước ngoài ỏ Việt Nam được quy định trong các văn bản pháp luật Việt Nam. Song cho đến nay, ô Việt Nam không có một văn bản pháp luật nào có hiệu lực cao và quy định toàn diện các nội dung quy chế pháp lý dân sự của người nước ngoài trong lĩnh vực quan hệ dân sự theo nghĩa rộng. Hiện tại, các nội dung quy chế pháp lý dân sự của người nước ngoài trong lĩnh vực quan hệ dân sự theo nghĩa rộng được quy định trong rất nhiều văn bản khác nhau. Nhiều điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia chứa đựng các nội dung cam kết của Việt Nam liên quan đến việc dành cho người nước ngoài các chế độ pháp lý nhất định, thậm chí có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ pháp lý của người nưóc ngoài.

Theo Điều 81 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, người nưỗc ngoài cư trú tại Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam. Đây là quy định có tính nguyên tắc chung và được áp dụng đối với tất cả mọi người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt định cư ỏ Việt Nam hay tạm trú, có hay không có quốc tịch. Quy định này của Hiến pháp được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực quan hệ xã hội, bao gồm cả quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tô' nước ngoài.

Điều cần lưu ý Ồ đây là, Hiến pháp năm 1992 không quy định về quyền và lợi ích của những người nước ngoài cư trú ở ngoài lãnh thổ Việt Nam. Song chúng ta hiểu rằng, vấn đề này được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật chuyên ngành.

Về mặt lý luận cũng như theo tinh thần pháp luật và thực tiễn của Việt Nam, người nước ngoài dù ỏ trên lãnh thổ Việt Nam hay ỏ ngoài lãnh thổ Việt Nam đều được công nhận là chủ thể của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật dần sự Việt Nam nói riêng. Vấn đề năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của người nưởc ngoài ở Việt Nam được giải quyết theo nguyên tắc phổ biến trình bày tại mục II của chương này. về nguyên tắc, quy chế pháp lý dân sự của ngưòi nước ngoài ở Việt Nam được xác định trên cơ sở chế độ đãi ngộ quốc dân, nếu pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết và tham gia không có quy định khác. Trong lĩnh vực buôn bán và hàng hải quốc tế, quy chế pháp lý dân sự của người nước ngoài ỏ Việt Nam được xác định trên cơ sồ chế độ tốì huệ quốc phù hợp với cam kết quốc tê của Việt Nam nêu trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Trong một số lĩnh vực và trong những trường hợp đặc biệt, Việt Nam dành cho người nước ngoài chế độ đãi ngộ đặc biệt.

2. Quy chế pháp lý dân sự của người nước ngoài ở Việt Nam trong lĩnh vực tài sản 

Vấn đề quy chế pháp lý của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản là vấn đề quan trọng nhất trong toàn bộ nội dung quy chế pháp lý dân sự của họ. Mức độ rộng hay hẹp, có hiệu lực thực tế cao hay thấp của các nội dung quy chế pháp lý của người nước ngoài trong lĩnh vực sỏ hữu tài san sẽ anh hưởng trực tiếp tới các nội dung quy chế pháp lý dan sự cua họ trong những lĩnh vực dân sự còn lại. Chính vì vậy, điều cần trưóc hết và đặc biệt quan tâm nhiều hơn là việc xem xét, nghiên cứu nội dung quy chế pháp lý của người nước ngoài trong lĩnh vực sồ hữu tài sản.

a) Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995.

Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, phân tích nội dung quy chế pháp lý của người nưốc ngoài ỏ Việt Nam trong lĩnh vực sở hữu tài sản, nên chia người nước ngoài thành: Người nước ngoài định cư ở Việt Nam; người nưốc ngoài thuộc diện đang đầu tư tại Việt Nam; những người nưổc ngoài không thuộc diện định cư hoặc đang đầu tư ỏ Việt Nam 

- Người nước ngoài định cư ở Việt Nam

Trước khi ban hành Bộ luật Dân sự năm 1995, pháp luật Việt Nam chưa có quy định chung và đầy đủ về quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài. Các quy định về vấn dề này nằm rải rác ở rất nhiều văn bản khác nhau. Ví dụ, theo Điều 7 Quyết định số 122/CP ngày 25-4-1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với người nước ngoài cư trú và làm ăn sinh sông tại Việt Nam (chúng ta gọi là 

người nưổc ngoài định cư ỏ Việt Nam), người nước ngoài định cư ở Việt Nam được hưởng quyền sỏ hữu cá nhân về thu nhập hợp pháp, về tư liệu sinh hoạt và những công cụ sản xuất nhất định theo- pháp luật Việt Nam; không có quyền sở hữu bất động sản ở Việt Nam, kể cả nhà ỗ (Họ chỉ có quyền sử dụng nhà ỏ, kể cả đối với nhà ở được xây cất hợp pháp).

Từ khi ban hành Pháp lệnh Nhà ở năm 1991, người nước ngoài định cư ở Việt Nam được hưởng quyền sồ hữu đốì với một loại bất động sản là nhà ỏ. Các quy định của Nghị định số 60/CP ngày 5-7-1994 về quyền sở hữu nhà ồ và quyền sử dụng đất ỏ tại đô thị (Điều 18) khẳng định rõ rằng, người nước ngoài định cư ỗ Việt Nam chỉ được hưởng quyền sở hữu đối với một nhà ỗ cho bản thân và cho gia đình trên đất ỗ thuê của Nhà nước Việt Nam trong thòi gian định cư tại Việt Nam.

Ngày 22-6-1994 Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Theo Luật này và các văn bản hướng dẫn thi hành, người nưốc ngoài định cư ở Việt Nam cũng được khuyến khích đầu tư và hưởng các ưu đãi, các biện pháp bảo đảm đầu tư như công dân, tổ chức Việt Nam. Và như vậy chúng ta có quyền rút ra kết luận rằng, người nước ngoài định cư ồ Việt Nam từ khi đạo luật này có hiệu lực, ngoài quyền sở hữu đối vối các tài sản là động sản và một nhà ỗ cho bản thân và cho gia đình, còn được hưỏng quyền sở hữu đối với những bất động sản mà họ góp vốn hoặc bỏ 100% vôn để xây dựng theo quy định của pháp luật Việt Nam về khuyến khích đầu tư trong nước trong suôt thời gian tồn tại và hoạt động của dự án đầu tư của họ.

-     Người nước ngoài thuộc diện đang đầu tư tại Việt Nam.

Về sở hữu của người nước ngoài thuộc diện đang đầu tư tại Việt Nam, tuy chưa có quy định cụ thể và rõ ràng nhưng Điều 25 Hiến pháp nám 1992, Điều 1 và Điều 21 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã khẳng định việc thừa nhận và bảo vệ quyền sỏ hữu 

của người đầu tư nưốc ngoài đối với vốn đầu tư do họ đưa vào Việt Nam, đốì với các quyền về tài sản và các quyền lợi khác của họ khi các quyền đó hình thành trên cơ sở pháp luật Việt Nam.

Với tinh thần nêu trên của Hiến pháp và của Luật Đầu tư nưốc ngoài tại Việt Nam, Nhà đầu tư nước ngoài đương nhiên có quyền sở hữu đốỉ vối không chỉ động sản là những tài sản mà họ đưa vào Việt Nam một cách hợp pháp để đầu tư hay động sản mà họ thu nhận được một cách hợp pháp từ hoạt động đầu tư hoặc từ các nguồn hợp pháp khác mà họ còn có cả quyền sở hữu đối với bất động sản là nhà máy, xí nghiệp, các công trình xây dựng khác do họ góp vốn hoặc bỏ 100% vốn ra để xây dựng theo giấy phép đầu tư tại Việt Nam, và có quyền duy trì quyển sở hữu đối vối các bất động sản đó trong suốt thời gian hoạt động của dự án đầu tư.

Người đầu tư nước ngoài cũng được công nhận có quyền sở hữu nhà ở trong thời gian đầu tư ở Việt Nam (Điều 16 Pháp lệnh năm 1991 về nhà ở). Song từ khi ban hành Nghị định sô' 60/CP ngày 5 tháng 7 năm 1994, người nước ngoài đang đầu từ tại Việt Nam không còn được hưỗng quyền sở hữu đối với nhà ỏ trên lãnh thổ Việt Nam. Họ chỉ có thể thuê nhà để ở trong thời gian đầu tư tại Việt Nam.

  • Những người nước ngoấi không thuộc diện định cư hoặc đang đầu tư ở Việt Nam.

Trước khi ban hành Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995, pháp luật nước ta chưa có quy định vê' quyền sỏ hữu của những người nước ngoài không thuộc diện định cư hoặc đang đầu tư ồ Việt Nam. Trên thực tế, những người nước ngoài thuộc loại này vẫn có quyền sở hữu đôì vối tư liệu sinh hoạt, thu nhập hợp pháp và các loại động sản khác trên lãnh thổ Việt Nam. Họ không có quyền sở hữu đối với bất động sản trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả nhà ỏ.

Pháp luật Việt Nam cũng chưa có quy định gì về quyền sở hữu của những người Việt Nam định cư ở nưốc ngoài đối với những tài sản tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế, họ được hưởng quy chế như người nước ngoài. Họ được hưỏng quyền sở hữu đối với động sản, không có quyền sỏ hữu nhà ở trên lãnh thổ Việt Nam. Nếu họ về nước đầu tư theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước hay theo Luật Đầu tư nưốc ngoài tại Việt Nam, thì họ cũng chỉ có quyền sỏ hữu đôi vối những bất động sản mà họ góp vốn hoặc bỏ 100% vốn để xây dựng tại Việt Nam trong suốt thòi gian thực hiện dự án đầu tư.

Việt Nam công nhận quyền sồ hữu của người nước ngoài đối vối những động sản mà họ là chủ sở hữu, thủ đắc hợp pháp ỏ nước ngoài theo pháp luật nước ngoài, khi được phép mang từ nước ngoài vào Việt Nam. Tuy nhiên, khi động sản đã được nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam, thì việc thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu, nội dung quyền sở hữu, phạm vi thực hiện quyền sỏ hữu cũng như việc bảo vệ quyền sở hữu của họ phải tuân theo pháp luật Việt Nam.

Trong trường hợp người nước ngoài được phép có quyền sỗ hữu đối với những tài sản nhất định tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam, thì việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền sỏ hữu, nội dung quyền sở hữu, phạm vi thực hiện quyền sở hữu ' cũng như việc bảo vệ quyền sở hữu của họ do pháp luật Việt Nam quy định, trừ một số trường hợp ngoại lệ được áp dụng phổ biến trên thế giới (ví dụ các trường hợp: Tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước nưốc ngoài; thanh lý tài sản của pháp nhân khi giải thể; vấn đề giải quyết tài sản thừa kế; vấn đề giải quyết tài sản khi vợ chồng ly hôn; vấn đề quyền sở hữu hàng hoá đang trên đường vận chuyển; vấn đề sỏ hữu máy bay, tầu biển; và một số trường hợp khác do pháp luật quốc gia hoặc đỉều ưốc quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc tham gia quy định).

b) Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Dân sự năm 1995 đến nay.

Bộ luật Dân sự năm 1995 đã có quy định chung về quy chế pháp lý dân sự của người nước ngoài, trong đó có quy chế pháp lý của 

người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản. Điều 830 của Bộ luật này quy định “Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”. Như vậy, về nguyên tắc, Bộ luật Dân sự năm 1995 khẳng định trong lĩnh vực sỏ hữu tài sản, người nước ngoài được hưồng chế độ đãi ngộ quốc dân với một số’ ngoại lệ nhất định. Ví dụ ngoại lệ về sỏ hữu nhà ỏ và các bất động sản khác.

Điều 833 của Bộ luật Dân sự Việt Nam cũng khẳng định rõ “Việc xác lập, chấm dứt quyền sở hữu, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó, trừ trường hợp pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”.

Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và theo cả các quy định hiện hành khác của pháp luật Việt Nam, cho đến thời điểm này, vấn đề quyền sở hữu của người nước ngoài nói chung, bao gồm cả người nước ngoài định cư ồ Việt Nam, người nưốc ngoài đang đầu tư tại Việt Nam và những người nước ngoài không thuộc hai loại định cư hay đang đầu tư tại Việt Nam, đều đã được pháp luật Việt Nam quy định.

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, bao gồm cả Bộ luật Dân sự năm 1995, các quy định về quyền sở hữu của người nưốc ngoài hình thành trong pháp luật và trong thực tiễn ngay trước năm 1995 vẫn tiếp tục được thừa nhận, củng cố và được làm rõ hơn.

Các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 về quyền sở hữu của người nước ngoài hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc được áp dụng phổ biến trên thế giới: Vấn đề sở hữu tài sản được giải Quyết theo pháp luật nơi có tài sản. Nội dung .của Điều 833 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995 được hiểu là khi tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam, nếu pháp luật Việt Nam không có quy định khác, thì pháp luật Việt Nam quyết định tất cả các vấn đề như ai có thể có quyền sở hữu đốỉ 

với loại tài sản nào, cơ sỏ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền sỏ hữu, nội dung quyền sỗ hữu, và đương nhiên phải quy định cả việc hành sử quyền sở hữu và các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản. Các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc “Vấn đề sở hữu tài sản được giải quyết theo pháp luật nơi có tài sản” được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ Luật hàng hải năm 1990, Luật Hàng không dân dụng năm 1991, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Chương XI), V.V..

Cần phải khẳng định rằng, một khi người nước ngoài được phép có quyển sở hữu đô'i với một tài sản nào đó ở Việt Nam và pháp luật Việt Nam được áp dụng, thì mọi quy định của pháp luật của Việt Nam về quyền sở hữu đối với tài sản đó được áp dụng như đối với các tổ chức, cá nhân Việt Nam.

3.Trong lĩnh vực trái vụ

Từ trước đến nay, trên thực tế'và theo pháp luật Việt Nam, người nước ngoài có thể là bên tham gia quan hệ trái vụ hợp đồng cũng như quan hệ trái vụ ngoài hợp đồng do pháp luật Việt Nam điều chỉnh.

Theo tĩnh thần của pháp luật Việt Nam, người nước ngoài được phép tham gia các hợp đồng nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và cả các hợp đồng sản xuất, kinh doanh, v.v. phù hợp với mục đích và phạm vi hoạt động được pháp luật nước ta cho phép. Nói cách khác, năng lực pháp luật của người nước ngoài trong lĩnh vực trái vụ ỏ Việt Nam được xây dựng trên cơ sỗ chế độ đãi ngộ quốc dân, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác theo đúng quy định tại Điều 830 của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995.

Và như vậy, trường hợp những ngưòi nước ngoài không có quyền sở hữu đối vối bất động sản nói chung hay đốì vói từng loại bất động sản nhất định ỏ Việt Nam thì không được phép nhân danh chính bản thân mình ký kết các hợp đồng mua bán loại bất động sản đó, trừ trường hợp xử lý tài sản thừa kế, cho, tặng là bất động sản tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu việc nhận 

tài sản cho, tặng hay thừa kế chỉ là nhận trị giá của bất động sản, chứ không được phép duy trì quyền sỏ hữu đối với bất động sản trong trường hợp này.

Trong lĩnh vực trái vụ hợp đồng có yếu tô' nưốc ngoài, hình thức của hợp đồng và quyền, nghĩa vụ của hợp đồng đước xử lý theo các cách khác nhau. Ví dụ, khoản 1 Điều 834 của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995 quy định việc hướng dẫn chọn pháp luật để xác định giá trị pháp lý của hợp đồng về mặt hình thức như sau: “ Hình thức của hợp đồng dân sự phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng được giao kết ỏ nước ngoài mà vi phạm hình thức hợp đồng, thì vẫn có hiệu lực về hình thức hợp đồng tại Việt Nam, nếu hình thức của hợp đồng đó không trái với quy định của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Về các quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng, khoản 2 Điều 834 của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995 quy định: “Quyền và nghĩa vụ của các bền theo hợp đồng dân sự được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thoả thuận khác.

Hợp đồng dân sự được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam, thì phải tuân theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Theo khoản 3 của Điều này thì hợp đồng dân sự liên quan đến bất động sản ở Việt Nam phải tuân theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Như vậy, nội dung cụ thể các quyền, nghĩa vụ của người nưốc ngoài tuỳ thuộc vào vấn đề hệ thống pháp luật Việt Nam có được áp dụng hay không. Nếu pháp luật Việt Nam được áp dụng, thì quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài, các biện pháp pháp lý bảo vệ các quyền và lợi ích của người nưốc ngoài trong lĩnh vực này ngang với quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác theo đúng tinh thần của Điều 830 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995.

Trong các quan hệ trái vụ ngoài hợp đồng, người nước ngoài có các quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam, nêu pháp luật Việt Nam được áp dụng. Trong lĩnh vực này, pháp luật Việt Nam được áp dụng, nếu hành vi gây thiệt hại hoặc hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam, bất kể quốc tịch và nơi cư trú của các đương sự. Riêng việc bồi thường thiệt hại do tầu bay, tầu biển gây ra ở không phận quốc tê hoặc biển quốc tế, thì áp dụng pháp luật của nước mà tầu bay, tầu biển mang quốc tịch, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam về hàng không, hàng hải có quy định khác. Trong trường hợp, hành vi gây thiệt hại xảy ra ỏ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều là công dân hoặc pháp nhân Việt Nam, thì áp dụng pháp luật Việt Nam.

4.Trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

  1. Trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả.

Theo quy định tại Điều 836 của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995, quyền tác giả của người nưởc ngoài, pháp nhân nước ngoài đôi với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam hoặc được sáng tạo và thể hiện dưối,hình thức nhất định tại Việt Nam, thì được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Và như vậy, họ được hưởng chế độ đãi ngộ quốc dân trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả trong trường hợp các tác phẩm lần đầu tiên được công bô", phổ biến tại Việt Nam hoặc được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam phù hợp với quy định tại Điều 830 của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995, không phân biệt họ định cư hay không định cư trên lãnh thổ Việt Nam, thậm chí không hề cư trú trên lãnh thổ Việt Nam.

Các tác phẩm của người nước ngoài lần đầu tiên công bô ở nước ngoài chỉ được bảo hộ ồ Việt Nam trên cơ sỏ các điều ước quộc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Trường hợp quyền tác giả của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế, thì họ cũng được hưởng chế độ đãi ngộ quốc dân.

  1. Trong lĩnh vực bảo hộ quyền sỗ hữu công nghiệp

Pháp luật Việt Nam quy định quyền sỗ hữu công nghiệp của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đối vởi các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp đã đựợc Nhà nưổc Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ, thì được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

Theo cách quy định trên, người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài có các đốì tượng của quyền sở hữu công nghiệp đã được Nhà nưốc ta cấp văn bằng bảo hộ, bất kể nơi cư trú, nơi đặt trụ sở chính, đều được hưởng quyền và có nghĩa vụ như công, dân Việt Nam trong việc bảo hộ quyền sỏ hữu công nghiệp phù hợp vối quy định tại Điều 830 của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995. Trường hợp các đối tượng của quyền sỏ hữu công nghiệp của người nưốc ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế, thì họ cũng được hưởng chế độ đãi ngộ quốc dân, nếu điều ước quốc tế quy định.

5.Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Pháp luật Việt Nam không cấm công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và giữa người nước ngoài kết hôn với nhau trên lãnh thổ Việt Nam, thậm chí còn tuyên bố tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tô' nước ngoài phù hợp với các quy định của pháp luật việt Nam và các điềư ước quô'c tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

Pháp luật Việt Nam về hôn nhân và gia đình khẳng định trong quan hệ hôn nhân và gia đình vối công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam được hưỏng các quyền và có các nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

Cũng giống như các lĩnh vực khác, nội dung cụ thể của quy chê pháp lý của người nưốc ngoài trong lĩnh vực này tuỳ thuộc vào vấn đề pháp luật nước nào được áp dụng. Trong trường hợp pháp luật 

Việt Nam về hôn nhân và gia đình được áp dụng thì người nước ngoài được hưỏng các quyền và có các nghĩa vụ tương ứng như công dân Việt Nam.

Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam năm 2000 quy định về các trường hợp áp dụng pháp luật Việt Nam như sau:

a)     Trong việc kết hôn

Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam vổi người nước ngoài, mỗi bên tuân theo pháp luật của nưốc mình về điều kiện kết hôn. Nếu việc kết hôn này tiên hành trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, thì người nước ngoài còn phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn. Việc kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn. Như vậy, dù kết hôn với nhau hay với công dân Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, người nước ngoài đều phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn.

b)    Về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha mẹ, nhận con

Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam năm 2000 không quy định trực tiếp vấn đề chọn pháp luật để áp dụng giải quyết vấn để quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha mẹ, nhận con mà trưóc hết quy định thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước của Việt Nam giải quyết các vụ việc này; khi giải quyết các vụ việc này, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng pháp luật Việt Nam.

c)    Trong việc ly hôn

Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo pháp luật Việt Nam. Bên là công dân Việt Nam không thưdng trú tại Việt Nam lúc xin ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ỏ nước ngoài khi ly hôn theo pháp luật nơi có bất động sản đó.

d)     Trong việc nuôi con nuôi

Nếu người nưốc ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam hoặc trẻ em là người nước ngoài thường trú tại Việt Nam làm con nuôi, thì điều kiện nuôi con nuôi được xác định theo cả pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước mà người xin con nuôi là công dân.

Việc công dân Việt Nam nhận trẻ em là người nước ngoài làm con nuôi đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì được công nhận tại Việt Nam.

Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo pháp luật Việt Nam, nếu việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thực hiện ỏ Việt Nam; theo pháp luật* nơi thưồng trú của con nuôi, nếu việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được thực hiện ở nưốc ngoài.

đ) Việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình

Việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thực hiện ở Việt Nam và cả việc giám hộ đăng ký tại Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ỏ nước ngoài đều phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam vối người nước ngoài được thực hiện tại nưốc ngoài thì quyền và nghĩa vụ giữa người giám hộ và người được giám hộ được xác định theo pháp luật nơi thường trú của người giám hộ.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )