1. Khi nào được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Tôi hiện công tác tại một công ty doanh nghiệp nhà nước ký hợp đồng không xác định thời hạn. Tôi đã làm được 14 năm trong suốt quá trình làm việc tôi không vi phạm và bị kỷ luật gì cả, luôn hoàn thành tốt công việc, đang làm việc thì công ty ra thông báo chấm dứt hợp đồng lao động đối với tôi với lý do Công ty hiện không có nhu cầu sử dụng. Công ty tôi ra thông báo đó đúng hay sai?
Tôi xin cảm ơn!

Người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động khi nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo quy định tại điều 38 Luật lao động 2012 công ty chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng với người lao động trong những trường hợp sau:

"Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng."

Ngoài ra người sử dụng lao động cũng có quyền chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế, khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã nhưng phải đảm bảo lợi ích nhất định cho người lao động theo quy định taijd điều 44, điều 45 Luật lao động 2012

"Điều 44. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế

1. Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

2. Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

3. Việc cho thôi việc đối với nhiều người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.

Điều 45. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã

1. Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục sử dụng số lao động hiện có và tiến hành việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trong trường hợp không sử dụng hết số lao động hiện có, thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

2. Trong trường hợp chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, thì người sử dụng lao động trước đó phải lập phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

3. Trong trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo quy định tại Điều này, thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này."

Vì vậy, nếu công ty chấm dứt hợp đồng lao động với bạn mà không có lý do thuộc một trong các trường hợp trên thì được coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Quy định về chế độ nghỉ việc riêng không hưởng lương trong thời gian thử việc ?

2. Chấm dứt hợp đồng lao động nhưng công ty không trả bằng đại học xử lý thế nào ?

Kính chào luật Minh Khuê! Tôi có câu hỏi muốn được tư vấn như sau: Tôi kí hợp đồng lao động 1 năm ( từ 17/6/2014 đến 17/6/2015), ngày 18/3/2015 tôi viết đơn xin nghỉ, làm hết tháng 5 thì tôi nghỉ chính thức ( đã bàn giao đầy đủ trước khi nghỉ chính thức), hồi còn làm việc công ty có yêu cầu nộp bằng đại học gốc tôi đã nộp, nhưng tới đến bây giờ( 26/10/2015).
Công ty không chịu trả (khi tôi hỏi thì được trả lời là đang đợi làm rõ) mà tôi chỉ là nhân viên bình thường, không liên quan đến tài chính, không vi phạm kỉ luật, đã bàn giao đầy đủ. Tôi có biên bản bàn giao nhận có chữ kí và dấu đỏ của ông tổng giám đốc.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Chấm dứt hợp đồng lao động nhưng công ty không trả bằng đại học xử lý thế nào ?

Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Điều 20, Bộ luật lao động năm 2012 quy định như sau:

"Điều 20. Những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động

1. Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động."

Công ty giữ bằng đại học bản chính của bạn là trái quy định của pháp luật.

Khoản 2, Điều 5, Nghị định số 95/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định như sau:

"2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động;

b) Buộc người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc trả lại bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ đã giữ của người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều này;

b) Buộc trả lại số tiền hoặc tài sản đã giữ của người lao động cộng với khoản tiền lãi của số tiền đã giữ của người lao động tính theo lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này.".

Mặt khác, tại điều 47 Bộ luật lao động 2012 quy định như sau:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.".

Để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn có thể làm đơn gửi đến Phòng lao động thương binh xã hội để yêu cầu hòa giải hoặc gửi đơn đến Tòa án nhân dân cấp quận/ huyện nơi công y đặt trụ sở chính để yêu cầu giải quyết.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Công ty không trả bằng đại học gốc có đúng luật ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thời gian thử việc không được nhận phụ cấp có đúng luật ?

3. Người lao động đồng loạt chấm dứt hợp đồng lao động ?

Chào công ty Luật Minh Khuê, công ty mình hiện nay có rất nhiều lao động đang ký HĐLĐ không xác định thời hạn làm đơn xin đơn phương chấm dứt HĐLĐ với lý do: hoàn cảnh khó khăn, suy giảm sức khoẻ và có báo trước. Đến ngày đề trong đơn không nghỉ luôn mà vẫn tiếp tục làm việc cho đến khi có Công ty có QĐ nghỉ việc. Như vậy có đúng luật không và có phải trả trợ cấp thôi việc không?
Tuy nhiên hiện nay Công ty mình có một số ý kiến trái chiều rằng: theo khoản 1 Điều 37 Bộ Luật LĐ thì những lý do của các LĐ này là vi phạm vì: Công ty vẫn bố trí được công việc, vẫn trả lương, nếu suy giảm sức khoẻ thì sẽ bố trí công việc khác, còn nếu không thì sẽ cho đi giám định để nghỉ hưu trước tuổi. Nếu không chấp thuận thì vẫn cho đơn phương chấm dứt HĐLĐ nhưng không trả trợ cấp thôi việc. Vậy có đúng luật không (Đây toàn là LĐ không xác định thời hạn).
Trân trọng cảm ơn!

Người lao động đồng loạt chấm dứt hợp đồng lao động?

Luật sư tư vấn luật lao động gọi: 1900.0159

Trả lời:

Căn cứ theo khoản 9 điều 36, điều 37 Bộ luật lao động số 10/2012/QH13:

"Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này."

"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."

Như vậy, khi người lao động đã viết đơn xin nghỉ việc với lý do như hoàn cảnh khó khăn, suy giảm sức khoẻ và có báo trước thì việc xin nghỉ việc này là không vi phạm pháp luật lao động vì khoản 3 điều 37 Bộ luật lao động 2012 chỉ quy định đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải đáp ứng điều kiện về thời hạn báo trước mà không kể đến lý do xin nghỉ việc là gì.

Khi công ty bạn không đồng ý cho nhân viên nghỉ việc thì sau 45 ngày, kể từ ngày nhân viên bạn nộp đơn xin nghỉ việc thì hợp đồng lao động sẽ chấm dứt kể từ ngày đó, nhưng nhân viên lại vẫn tiếp tục làm việc thì những ngày làm việc thêm này cũng sẽ không được tính vì hợp đồng lao động đã chấm dứt.

Việc công ty bạn vẫn bố trí được công việc, vẫn trả lương cho nhân viên thì công ty bạn có thể thỏa thuận với họ để họ thay đổi ý định và ở lại làm việc.

Nếu không chấp thuận cho họ nghỉ việc thì bạn vẫn phải trả trợ cấp thôi việc cho họ bởi vì bạn chỉ không phải chi trả trợ cấp thôi việc khi họ chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, đó là việc chấm dứt không đúng với thời hạn báo trước, và họ sẽ phải bồi thường. Theo điều 43 BLLĐ 2012:

"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

Trách nhiệm của công ty bạn đối với người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

Theo khoản 2, 3 điều 47, điều 48 BLLĐ 2012:

"2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động."

"Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Nghỉ việc trong thời gian thử việc có cần phải báo trước ? Cách tính tiền lương thử việc

4. Tư vấn về chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn?

Chào luật sư, Em có một việc cần được tư vấn như sau: Em tự bỏ tiền ra đi học khóa học M ở trung tâm đào tạo giáo viên M ở trường S. Sau khi học xong em xin về trường "Những Ngón Tay Bay" thực tập. Bình thường thì giáo viên thực tập sẽ thực tập nửa ngày không lương trong 1 năm.

Sau 1 năm mà trải qua 3 đợt giám sát của Trung tâm M của S thì sẽ được lấy bằng M và trở thành giáo viên M chính thức. Riêng trường hợp của em, được chủ trương thỏa thuận ký hợp đồng chính thức làm việc với nhà trường nên em thực tập nửa ngày và làm việc theo sự phân công của nhà trường nửa ngày còn lại với mức lương 5tr đồng/ tháng và con được học ở trường với mức học phí ưu đãi 1 triệu tháng (nguyên học phí là 5.3tr/tháng). Cùng với bản hợp đồng ký với nhà trường em còn phải ký một bản cam kết về thời gian làm việc với nhà trường (em có đính kèm mail bên dưới) Bây giờ em chưa làm hết cam kết thời hạn 2 năm sau khi được cấp bằng em lại muốn xin nghỉ làm ở trường ( việc cấp bằng không liên quan đến nhà trường, trường chỉ là cơ sở em thực tập. Chứng nhận và cấp bằng là do trung tâm em học chứng nhận). Trường yêu cầu em đền bù 50 triệu theo cam kết đã ký. Trường đang giữ bằng đại học bản gốc của em và có phiếu giao nhận (nhưng là bản photo).

Trường yêu cầu em đền bù 50 triệu theo cam kết thì mới trả lại bằng gốc và chốt sổ bảo hiểm cho em. Em muốn hỏi là về mặt pháp lý em có nghĩa vụ phải đền bù 50 triệu đó không? Có cách nào để em lấy lại được bằng và sổ bảo hiểm mà không phải đền bù 50 triệu không? Vụ việc của em nếu em kiện ra tòa thì có khả thi không? Phí nhờ luật sư đại diện là bao nhiêu ạ?

Em cảm ơn luật sư nhiều ạ

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 37, Bộ Luật Lao động năm 2012 Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Căn cứ vào những nội dung bạn đã cung cấp , và đối chiếu với Điều 37 Bộ luật lao động, có thể thấy, hợp đồng lao động bạn ký với trường là hợp đồng lao động có xác định thời hạn ( từ 12-36 tháng), do đó, bạn chỉ được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi thỏa mãn một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 37 bộ luật lao động 2012. Do bạn không nêu rõ lí do nên chúng tôi không thể xác định căn cứ bạn chấm dưt hợp đồng lao động là hợp pháp không. Nếu có căn cứ hợp pháp thì bạn cần làm thủ tục báo trước cho người sử dụng lao động trong thời hạn mà pháp luật đã quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật lao động 2012.
Trong trường hợp lí do của bạn không phải căn cứ hợp pháp để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, bạn sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định tại điều 43 Bộ luật lao động 2012

Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Chi phí đào tạo được dẫn chiếu tại Điều 62 Bộ luật lao động như sau:

"3. Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài"

Theo như thông tin bạn cung cấp thì nhà trường không thực hiện đào tạo bạn mà bạn học ở trung tâm M, bạn chỉ thực tập ở trường và được ký hợp đồng chính thức vậy khoản 50 triệu này không phải là chi phí đào tạo của bạn.

Theo quy định tại Điều 43 BLLĐ thì ngoài khoản chi phí đào tạo và tiền bồi thường về việc đơn phương chấp dứt hợp đồng thì bạn không phải trả thêm cho trường một khoản nào khác.

Còn về việc nhà trường giữ bằng cấp bản gốc của bạn thì đây là hành vi vi phạm pháp luật, bạn có thể liên hệ với Phòng lao động thương binh xã hội để được bảo vệ quyền lợi của mình.

Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về các quyền và lợi ích của mình thì có thể giải quyết theo thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật lao động hiện hành.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định chấm dứt hợp đồng lao động mới năm 2020

5. đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có đúng không ?

Thưa Luật sư! Tôi làm việc cho công ty H tại tỉnh Long An. tôi đã được ký hợp đồng thời hạn một năm, hợp đồng được ký vào đầu tháng 11 năm 2014, đến cuối tháng 5 năm 2015 thì công ty đơn phương chắm dứt hợp đồng lao động, với lý do tôi làm mất hàng của công ty và không trả lương.
Sau đó tôi đã chứng minh được tôi không sai phạm hàng không mất, được sự kiểm tra của ban giám đốc đúng là hàng không mất. và công ty đồng ý trả lương tháng 5 năm 2015, nhưng công ty không nhận lại tôi làm việc tiếp. trong thời gian tôi phải kiểm tra cùng giám sát của công ty, thì cấp trên của tôi cho dọn bàn làm việc của tôi trong đó có dụng cụ và tủ đồ cá nhân của tôi mà không hỏi qua ý kiến của tôi đồng thời không cho tôi vào được bàn làm việc của mình, khi đó Hợp đồng lao động của tôi và 1 đồng nghiệp của tôi gửi tôi đã không lấy lại được, sự việc trên có người nhìn thấy và làm chứng cho tôi về việc có người dọn bàn làm việc của tôi.
Vậy xin hỏi Luật Sư: trường hợp trên Công ty có vi phạm luật không? và tôi kiện ra tòa án khi chỉ có Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động + Bản lương Tháng 5/2015, nhưng không có Hợp đồng Lao Động có được không?
Xin trân thành cảm ơn Luật sư!
Người gửi: Q.T

đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có đúng không?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động: 1900.0159

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Qua những thông tin bạn đã trình bày thì Công ty H áp dụng hình thức xử lý kỷ luật đối với bạn, cụ thể là hình thức xử lý kỷ luật sa thải. Và theo quy định tại khoản 1, điều 123 Bộ luật lao động 2012 thì dù áp dụng hình thức xử lý kỷ luật nào thì người sử dụng vẫn phải tuân theo tất cả các nguyên tắc sau:

Điều 123. Nguyên tắc, trình tự xử lý kỷ luật lao động

1. Việc xử lý kỷ luật lao động được quy định như sau:

a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;

b) Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở;

c) Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; trường hợp là người dưới 18 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật;

d) Việc xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản.

Trong vụ việc của bạn, bạn đã chứng minh được rằng bạn không có lỗi ( hàng không mất) và bạn giám đốc cũng biết được bạn không hề có lỗi. Vì vậy, sẽ không có căn cứ gì để sa thải bạn cả. Nhưng, Công ty H lại vẫn sa thải bạn với lý do bạn làm mất hàng là không có căn cứ pháp luật hay Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của công ty H đối với bạn là trái pháp luật. Và để bảo vệ quyền và lợi ích của bạn thì bạn phải thực hiện theo trình tự sau:

Do tranh chấp giữa bạn với công ty H là về hình thức xử lý kỷ luật sa thải nên căn cứ vào điểm a, khoản 1, điều 201 Bộ luật luật lao động 2012 thì bạn khởi kiện đến ngay Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty đặt trụ sở.

Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

Bạn sẽ phải làm đơn khởi kiện, rồi gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty H đặt trụ sở theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 35, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung 2011)

Điều 35. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

Cùng với việc nộp đơn khởi kiện đến Tòa án thì bạn cũng sẽ phải nộp những chứng cứ để đảm bảo được yêu cầu khởi kiện của bạn là có căn cứ và hợp pháp. Bên cạnh những chứng cứ Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động và Bảng lương Tháng 5/2015 thì một trong những chứng cứ bắt buộc bạn phải nộp cho Tòa án đó là hợp đồng lao động giữa bạn với công ty H để chứng minh được rằng giữa hai bên có tồn tại quan hệ lao động. Tuy nhiên, đối với trường hợp của bạn thì hiện bạn không có hợp đồng lao động do bên sử dụng lao động đã lấy nên tại thời điểm khởi kiện bạn không cần nộp chứng cứ này mà có thể bổ sung trong quá trình giải quyết vụ án lao động của bạn theo quy định tại khoản 4 và 5 điều 2 của Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định về " chứng minh và chứng cứ" của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sử đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.:

Điều 2. Cung cấp chứng cứ

4. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nếu thấy chứng cứ mà đương sự giao nộp chưa đủ cơ sở để giải quyết, thì Toà án yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của BLTTDS. Khi yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, Toà án cần phải nêu cụ thể chứng cứ cần giao nộp bổ sung.

5. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Toà án cần giải thích cho đương sự biết quy định tại Điều 7 của BLTTDS về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Khi biết chứng cứ đang do cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý, thì căn cứ vào quy định tại Điều này, đương sự có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ. Nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp được chứng cứ cho đương sự, thì phải thông báo bằng văn bản có ghi rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ cho đương sự biết để họ chứng minh với Toà án là họ đã thu thập chứng cứ nhưng không có kết quả và yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ.

Căn cứ vào quy định này thì trong trường hợp Tòa án có yêu cầu bạn bổ sung chứng cứ mà bạn đã yêu cầu công ty H cung cấp hợp đồng lao động mà công ty H không cung cấp thì bạn làm đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email:Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.0159. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp

Trân trọng.
Bộ phận tư vấn luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Nghỉ việc phải báo trước bao nhiêu ngày ? Vi phạm thời gian báo trước thì bị phạt thế nào ?