1. Lịch sử của Hiệp định TRIPS

Hiệp định TRIPS được thiết lập với ý nghĩa là một phần của Những Thoả thuận Thương mại Đa phương trong vòng Đàm phán Uruguay trong khuôn khổ Thỏa thuận chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Đây là lần đầu tiên các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại quốc tế được đàm phán trong khuôn khổ của GATT. 

Kết quả của các cuộc đàm phán đó được thể hiện trong Thỏa thuận Thiết lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hiệp định TRIPS là Phụ lục 1C của Thỏa thuận Thiết lập Tổ chức WTO. Hiệp định có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các Thành viên WTO, được thông qua tại Marrakesh ngày 15 tháng 4 năm 1994 và có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 1995. Hiệp định là một trong những trụ cột quan trọng nhất của WTO và bảo hộ sở hữu trí tuệ trở thành một phần không thể tách rời trong hệ thống thương mại đa phương của WTO.

 

2. Phân tích các nguyên tắc của Hiệp định TRIPS

Tương tự như các thoả thuận khác thuộc WTO như GATT và GATS, Hiệp định TRIPS được thiết lập dựa trên ba nguyên tắc. Đó là nguyên tắc đối xử quốc gia, nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, nguyên tắc minh bạch.[19] Các vấn đề liên quan đến khả năng đạt được, phạm vi, sử dụng và thực thi quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại trong Hiệp định TRIPS là đối tượng của hai nguyên tắc đầu tiên.[20] Nguyên tắc thứ ba nhằm duy trì tính công khai, ổn định, dự báo của pháp luật sở hữu trí tuệ.

Nguyên tắc đối xử quốc gia

Nguyên tắc đối xử quốc gia được quy định lần đầu tiên trong Công ước Paris (Điều 2). Tuy nhiên, hoạt động của nguyên tắc này theo Công ước Paris làm phát sinh những khác biệt về mức độ bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp giữa các nước thành viên của Liên minh và hệ quả là tạo ra những rào cản cho xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ mang đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ. Do đó, các nước thành viên ở vòng đàm phán Uruguay đã nhất trí thiết lập một công thức mới cho nguyên tắc đối xử quốc gia tại Điều 3 Hiệp định TRIPS.

Nguyên tắc đối xử quốc gia trong Hiệp định TRIPS được bộ phận giải quyết tranh chấp của WTO xem xét và giải thích kỹ lưỡng. Chẳng hạn, nguyên tắc này đã được hiểu trong một số vụ việc sau đây: European Communities-Protection of Trademark and Geographical Indications for Agricultural Products and Foodstuffs, complaint by the US; European Communities-Protection of Trademark and Geographical Indications for Agricultural Products and Foodstuffs, complaint by Australia; Indonesia-Autos; and US-Section 211 Appropriations Act (US-Havana Club).

Theo đó, không còn tồn tại sự bảo hộ mà một nước thành viên dành cho công dân của các nước thành viên khác không giống với sự bảo hộ dành cho công dân của mình (như quy định trong Công ước Paris); Hiệp định TRIPS đòi hỏi mỗi nước thành viên WTO dành sự bảo hộ cho công dân các nước thành viên khác “không kém thiện chí hơn” sự bảo hộ dành cho công dân của mình. Nói cách khác, bất kể mức độ bảo hộ một nước thành viên dành cho công dân của mình, nước này buộc phải áp dụng tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu do Hiệp định TRIPS thiết lập cho công dân của các nước thành viên khác. Nếu mức độ bảo hộ của nước thành viên đó thấp hơn hoặc ngang bằng với mức độ bảo hộ do Hiệp định TRIPS thiết lập, nước thành viên đó có thể giới hạn mức độ bảo hộ cho công dân của các nước thành viên theo tiêu chuẩn bảo hộ của Hiệp định TRIPS. Nếu mức độ bảo hộ của nước thành viên đó cao hơn mức độ bảo hộ do Hiệp định TRIPS thiết lập, nước thành viên đó phải dành mức độ bảo hộ cao tương tự cho công dân của các nước thành viên khác.

Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc

Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc được quy định tại Điều 4 Hiệp định TRIPS. Nguyên tắc này không được đề cập trong những công ước về sở hữu trí tuệ được thiết lập trước Hiệp định TRIPS nhưng được quy định trong các thoả thuận khác của WTO như GATT (Điều I) và GATS (Điều 2). Trong khi nguyên tắc đối xử quốc gia cấm một nước thành viên phân biệt đối xử giữa công dân của mình và công dân của các nước thành viên khác, nguyên tắc đối xử tối huệ quốc cấm một nước thành viên phân biệt đối xử giữa công dân của hai nước thành viên khác.

Đối với  bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Điều 4 Hiệp định TRIPS đòi hòi các nước thành viên của WTO dành sự bảo hộ “lập tức và vô điều kiện” “ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền hoặc miễn trừ” cho “công dân của bất kỳ nước nào khác” (bao gồm cả công dân của nước không phải là thành viên của WTO) như sự bảo hộ dành cho công dân của mình. Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc được hiểu trong một số vụ việc sau đây: European Communities-Protection of Trademark and Geographical Indications for Agricultural Products and Foodstuffs (khiếu kiện của Hoa Kỳ); US-Section 211 Appropriations Act (US-Havana Club).

Nguyên tắc minh bạch

Nguyên tắc minh bạch được biết đến lần đầu tiên trong Điều X GATT năm 1947. Trong Hiệp định TRIPS, nguyên tắc này được quy định tại Điều 63. Điều 63 yêu cầu các nước thành viên của WTO công bố các nguyên tắc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.

Theo Điều 63(1), các nguyên tắc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các luật, quy định, quyết định xét xử cuối cùng, quyết định hành chính, thoả ước giữa chính phủ của nước thành viên hoặc cơ quan chính phủ với chính phủ hoặc cơ quan chính phủ của nước thành viên khác. Nghĩa vụ công bố này được thực hiện thông qua ba phương thức, đó là công bố chính thức (Điều 63(1)), thông báo cho Hội đồng TRIPS (Điều 63(2)), yêu cầu nước thành viên khác cung cấp thông tin và cho phép tiếp cận thông tin (Điều 63(3)). Mục đích của nguyên tắc minh bạch là “giúp cho chính phủ và các chủ thể khác được thông báo về khả năng thay đổi của pháp luật sở hữu trí tuệ của nước thành viên nhằm góp phần đảm bảo môi trường pháp lý ổn định và có thể dự báo được.”

Cần lưu ý rằng Hiệp định TRIPS cũng quy định một số ngoại lệ đối với ba nguyên tắc trên đây. Ngoại lệ cho đối với nguyên tắc đối xử quốc gia được quy định tại Điều 3(2); ngoại lệ đối với nguyên tắc đối xử tối huệ quốc được quy định tại Điều 4(a), (b), (c), (d); ngoại lệ đối với nguyên tắc minh bạch được quy định tại Điều 63(4).

 

3. Mục tiêu cơ bản của Hiệp định TRIPS

Phù hợp với mục tiêu của WTO, mục tiêu của Hiệp định TRIPS là thúc đẩy tự do trong thương mại quốc tế bằng cách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời ngăn chặn các quốc gia thành viên sử dụng quyền sở hữu trí tuệ như những rào cản trong thương mại. “Một trong những hiểu lầm phổ biến nhất về Hiệp định TRIPS là mục tiêu chính của Hiệp định là đề cao bảo hộ sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, điều này không đúng. Mục tiêu chính – nếu không phải là mục tiêu duy nhất – của Hiệp định TRIPS cũng như mục tiêu của toàn bộ Thỏa thuận Thiết lập WTO là thúc đẩy tự do trong thương mại.”

Như đã nhấn mạnh trong Lời nói đầu của Hiệp định TRIPS, mục tiêu cơ bản đầu tiên của Hiệp định là “giảm sự những lệch lạc và trở ngại trong thương mại quốc tế…và bảo đảm rằng các biện pháp và thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ không tự chúng tạo thành những rào cản cho thương mại hợp pháp.” Mục tiêu  này nên được đặt trong mối quan hệ với Điều 7 và Điều 8 của Hiệp định TRIPS. Theo đó, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, chuyển giao và phổ biến công nghệ, đem lại lợi ích chung cho người tạo ra và người sử dụng kiến thức công nghệ, đem lại lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế, tạo ra sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ (Điều 7). Các Thành viên WTO được phép áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng cũng như những lợi ích công cộng khác và được ngăn chặn lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ hoặc những hành vi cản trở thương mại bất hợp lý hoặc ảnh hưởng xấu đến chuyển giao công nghệ quốc tế (Điều 8).

Bên cạnh Lời nói đầu, nhiều quy định của Hiệp định TRIPS cũng thể hiện mục tiêu thúc đẩy tự do trong thương mại. Chẳng hạn, đó là những quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Các biện pháp và thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ được cho là tự chúng trở thành những rào cản trong thương mại quốc tế khi được sử dụng không thích đáng. Do đó, Hiệp định TRIPS yêu cầu các Thành viên WTO áp dụng các biện pháp thực thi “sao cho tránh tạo ra những rào cản cho thương mại hợp pháp” theo quy định tại Điều 41. Các Điều 48, 50.3, 50.7 và 56 là những ví dụ khác về các quy định nhằm ngăn chặn và xử lý việc lạm dụng các biện pháp thực thi của chủ thể nắm giữ quyền (hoặc người được cho là chủ thể nắm giữ quyền) có thể cản trở thương mại quốc tế hợp pháp.

 

4. Điểm tương đồng về nội dung pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ với hiệp định TRIPS 

- Tính đến đầu năm 2003, toàn bộ các đối tượng trong danh sách quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ bởi hiệp định TRIPs đều đã được quy định bảo hộ trong pháp luật Việt Nam.

- Luật sở hữu trí tuệ đã luật hóa các đối tượng sở hữu trí tuệ để phù hợp hơn với hiệp định TRIPS, ví dụ như sau:

+ Quyền tác giả : “quyền liên quan” đến quyền tác giả đã được quy định trong luật.

+ Quyền sở hữu công nghiệp: tại nghị định 103/2006/NĐ-CPvà Thông tư 01/2007/TT-BKHCNcác đối tượng như bố trí mạch tích hợp bán dẫn, chỉ dẫn địa lý, cạnh tranh không lành mạnh, tên thương mại và bí mật kinh doạnh đã được quy định trong luật

+ Quyền về giống cây trồng: việc bảo hộ giống cây trồng hiện nay được quy định trong pháp lệnh về giống cây trồng (2004). Đối tượng SHTT đặc biệt này được luật hóa tại phần thứ tư của luật sở hữu trí tuệ, trong các điều từ 157đến 200.

+ Thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

 

5. Điểm khác biệt về nội dung pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ với hiệp định TRIPS 

Có thể thấy TRIPS là kết quả của nhiều các cuộc thoả thuận thương mại đa phương kéo dài nhiều năm và chỉ thực sự kết thúc ngày 15 tháng 12 năm 1993. Văn kiện cuối cùng chứa đựng những thoả thuận thương mại song phương của Vòng đám phán Uruguay được ký kết ở Marrakech, Maroc ngày 15 ttháng 4 năm 1994. Bằng việc ký kết Văn kiện cuối cùng này, các nước đã nhất trí trình Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (gọi tắt là “Hiệp định về Tổ chức Thương mại Thế giới” hay “Hiệp định WTO”) để cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia xem xét phê chuẩn. Hiệp định TRIPS, là một phần của thỏa thuận theo Hiệp định WTO, có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 1995.

- Các công ước này chủ yếu được ký kết trước đó trong khuôn khổ Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO (Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới). Ngoài ra tính khái quát cao hơn của TRIPS chính là do TRIPS không nêu lại quy định ở các công ước trước đó mà quy định dẫn chiếu đến các công ước này.

Ví dụ TRIPS quy định thời hạn bảo hộ nhãn hiệu tối thiểu là 7 năm nhưng theo luật sở hữu trí tuệ Việt Nam thời hạn này là 10 năm...

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).