- 1. Về khái niệm công lý, công bằng
- 2. Công lý như là công bằng
- 3. Hai nguyên tắc về công bằng
- 4. Những biến đổi trong quan niệm về công bằng trong nước của Rawls
- 5. Quan niệm về công bằng quốc tế của Rawls
- 5.1. Những nguyên tắc điều chỉnh quan hệ giữa các dân tộc
- 5.2. Nghĩa vụ hỗ trợ trong quan hệ quốc tế
- 6. Luận thuyết về Công lý
1. Về khái niệm công lý, công bằng
John Rawls (1921 - 2002) là nhà triết học Mỹ thuộc trào lưu chủ nghĩa tự do. Ông được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là một trong những nhà triết học chính trị lỗi lạc nhất thế kỷ XX. Có thể nói, Rawls có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử triết học chính trị. Ông chính là người có công hồi sinh triết học chính trị, buộc các nhà triết học quay trở lại những vấn đề quan trọng của triết học chính trị như công bằng, tự do, dân chủ... Vào những năm 1950 - 1960, triết học chủ yếu chú trọng tới logic học và ngôn ngữ học. Các nhà triết học chỉ đánh giá cao những vấn đề có thể luận chứng, thực nghiệm được. Triết học chính trị lúc này chỉ có nhiệm vụ diễn giải, làm sáng tỏ khái niệm. Với tác phẩm Lý thuyết về công lý, ông đã làm sống lại một trong những mối quan tâm chung của triết học chính trị, đó là xã hội công bằng sẽ như thế nào? Làm thế nào mà xã hội vừa đảm bảo công bằng vừa tạo động lực thúc đẩy cá nhân theo đuổi một cuộc sống tốt đẹp?
Rawls dùng cả thuật ngữ “justice” với cả nghĩa công lý và và công bằng (công bằng xã hội), ở một khía cạnh nhất định, công lý được đồng nhất với công bằng, trong đó có thể hiểu “công lý là cái gốc của công bằng”, công bằng phải xuất phát từ công lý để “hiểu và cư xử với mọi người như nhau, không thiên vị”. Còn thuật ngữ “fairness”, ông dùng với nghĩa công bằng dành cho các cá nhân.
2. Công lý như là công bằng
Công lý như là công bằng” là quan niệm chủ đạo trong học thuyết về công bằng của Rawls. Nói đúng hơn, Rawls cho rằng học thuyết về công bằng của ông chính là “công lý như là công bằng”. Cũng như các nhà lý luận cùng thời, Rawls cho rằng chúng ta cần chấp nhận sự tồn tại một số bất bình đẳng nhưng không phải mọi bất bình đẳng đều được chấp nhận và theo ông, những học thuyết về công bằng trước đó cũng như hiện tại đều đã lờ đi một số bất bình đẳng không đáng có. Ông khẳng định, nếu chúng ta cho rằng số phận con người bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tầng lớp, giới tính, chủng tộc là không công bằng, vậy tại sao chúng ta không nhìn nhận như vậy đối với những bất công mà những người tàn tật hay người có chỉ số IQ thấp đang phải gánh chịu? Để đảm bảo tính công bằng, Rawls kế thừa quan niệm khế ước của Locke, Rousseau.
Trạng thái tự nhiên được xem là vị trí ban đầu của bình đẳng trong quan niệm khế ước truyền thống. Còn trong quan niệm khế ước của Rawls, trạng thái tự nhiên thông thường không được xem là vị trí ban đầu của quyền bình đẳng. Bởi ở đó, một số người có quyền lực hơn những người bị khuyết tật và “trò chơi xổ số của tự nhiên” sẽ giúp họ có vị trí tốt hơn trong khi những người kém may mắn phải nhượng bộ. Và theo Rawls, điều này là không công bằng. Từ đây, ông đưa ra quan niệm về vị trí ban đầu mà tại đó con người đứng sau “bức màn vô tri”. Ông yêu cầu chúng ta hình dung những nguyên tắc sẽ chọn nếu chúng ta không biết mình thuộc kiểu người nào, lười biếng hay siêng năng, thông minh hay ngu ngốc, bị khuyết tật hay không, nam hay nữ… và cả việc chúng ta không biết mình có vị trí nào trong xã hội, hoàn cảnh xã hội cụ thể chúng ta sống, đó là xã hội thịnh vượng hay không? Vị trí ban đầu cho thấy một tình huống công bằng mà từ đó con người lựa chọn những nguyên tắc về công lý, và đó là lý do mà Rawls gọi Công lý như là công bằng.
3. Hai nguyên tắc về công bằng
Hai nguyên tắc về công bằng được Rawls trình bày đầu tiên ở mục 11 của Lý thuyết về công lý, cụ thể, ông viết: “Phát biểu đầu tiên về hai nguyên tắc về công bằng có thể đọc như sau: Thứ nhất: mỗi người đều có quyền bình đẳng với một hệ thống rộng lớn nhất các quyền tự do cơ bản tương thích với quyền tự do tương tự dành cho người khác. Thứ hai: sự bất bình đẳng về xã hội và kinh tế phải được sắp xếp sao cho đồng thời: a) sự bình đẳng đó được kỳ vọng một cách chính đáng là mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, và b) gắn với địa vị, chức vụ rộng mở với tất cả mọi người”. Sau đó, ông bổ sung và trình bày hai nguyên tắc này một cách đẩy đủ hơn ở mục 46, cụ thể: “Nguyên tắc đầu tiên đó là mỗi người phải có quyền bình đẳng đối với toàn bộ hệ thống mở rộng nhất những quyền tự do bình đẳng cơ bản phù hợp với hệ thống tương tự về quyền tự do dành cho tất cả mọi người. Nguyên tắc thứ hai là những bất bình đẳng kinh tế xã hội phải được sắp xếp sao cho đồng thời a) đem lại lợi ích lớn nhất cho những người kém may mắn nhất, phù hợp với nguyên tắc tiết kiệm công bằng, b) gắn với vị thế và vị trí được mở rộng cho tất cả mọi người dưới những điều kiện của quyền bình đẳng công bằng về cơ hội”.
4. Những biến đổi trong quan niệm về công bằng trong nước của Rawls
Sau Lý thuyết về công lý, Rawls đã có những thay đổi quan trọng trong quan niệm về công bằng trong nước. Rawls đã nỗ lực để chuyển “công lý như là công bằng” từ học thuyết toàn diện thành quan điểm chính trị cụ thể. Điều đó phần nào thể hiện trong cuốn sách Chủ nghĩa tự do chính trị và thể hiện cô đọng, tập trung trong Công lý như là công bằng: sự trình bày lại. Về lý do của sự thay đổi, Rawls đã chỉ ra trong Chủ nghĩa tự do chính trị.
Rawls cho rằng “Thực tế về sự đa dạng của các học thuyết toàn diện hợp lý nhưng không tương thích - thực tế của chủ nghĩa đa nguyên hợp lý - cho thấy rằng, như được sử dụng trong Lý thuyết, ý tưởng về một xã hội có trật tự tốt của công lý như là công bằng là không thực tế. Điều này là do nó không phù hợp với việc thực hiện các nguyên tắc của riêng mình trong những điều kiện tốt nhất có thể thấy trước. Do đó, quan niệm về sự ổn định của một xã hội trật tự trong phần III cũng mang tính không thực tế và phải được viết lại. Vấn đề này được thể hiện trong các bài luận sau (Lý thuyết), bắt đầu từ năm 1980. Sự mơ hồ về lý thuyết giờ đây đã được xóa bỏ và công lý với tư cáchlà công bằng được trình bày ngay từ đầu như một quan niệm chính trị về côngbằng.”. Ngoài ra, một lý do khiến Rawls sửa đổi “công lý như là công bằng” còn là do ông tiếp thu hoặc phản biện những phê bình của các nhà nghiên cứu về các luận điểm chính trong quan niệm công bằng của mình. Nếu trong Lý thuyết về công lý, khi lập luận từ vị trí ban đầu dẫn tới hai nguyên tắc, Rawls chú trọng vấn đề lựa chọn hợp lý, nguyên tắc tối đa hóa trong xem xét vấn đề lựa chọn hai nguyên tắc về công bằng, thì ở các công trình sau, ông ít dựa vào nguyên tắc lựa chọn hợp lý mà tập trung diễn giải xung quanh quan niệm về con người, nhấn mạnh hai năng lực đạo đức của công dân. “Công lý như là công bằng” thúc đẩy sự phát triển hai năng lực đạo đức của công dân bằng cách đảm bảo những quyền tự do cơ bản để thực thi chúng, khuyến khích công dân theo đuổi một cuộc sống ý nghĩa, tương tác với nhau trên cơ sở tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau và yêu cầu những bất bình đẳng phải mang lại lợi ích cho mọi người. Bên cạnh sự thay đổi cách lập luận dẫn tới hai nguyên tắc về công bằng, Rawls cũng thay đổi nội dung của chúng
5. Quan niệm về công bằng quốc tế của Rawls
5.1. Những nguyên tắc điều chỉnh quan hệ giữa các dân tộc
Trong quan niệm về công bằng quốc tế, Rawls vẫn tiếp tục sử dụng những khái niệm công cụ tương tự như trong lý thuyết công bằng trong nước như khế ước, bức màn vô tri, khởi điểm ban đầu hay khởi điểm nguyên thủy.
Sự khác biệt chính giữa hai lý thuyết công bằng chính là nếu trong lý thuyết công bằng trong nước, các cá nhân lý trí và tự do là những người đứng sau bức màn vô tri để lựa chọn nguyên tắc công bằng thì trong lý thuyết công bằng quốc tế, chỉ những dân tộc tự do mới chính là chủ thể hợp pháp để lựa chọn nguyên tắc công bằng sẽ được áp dụng cho các dân tộc. Rawls dùng thuật ngữ “dân tộc” thay vì “nhà nước” bởi theo ông nhà nước thường theo đuổi tham vọng mở rộng lãnh thổ, thay đổi các nhà nước khác theo tôn giáo của mình, mở rộng quyền cai trị nước khác, hoặc tăng sức mạnh kinh tế tương đối của nó, trong khi đó dân tộc là một nhóm những cá nhân được quản lý bởi một chính phủ chung, gắn kết bởi sự đồng cảm chung, quan niệm chung về quyền và sự công bằng. “Dân tộc” là một khái niệm được đ ạo đức hóa, và không phải tất cả nhà nước hiện có trên bản đồ thế giới đều thỏa mãn tiêu chuẩn này. Rawls khẳng định khi đứng sau bức màn vô tri ở vị trí ban đầu thứ 2 (vị trí ban đầu hay vị trị ban đầu thứ nhất là khi các cá nhân đứng sau bức màn vô tri để lựa chọn nguyên tắc công bằng trong nước), các dân tộc sẽ lựa chọn 8 nguyên tắc đồng thuận sau:
“1. Các dân tộc đều tự do và độc lập, sự tự do và độc lập đó được các dân tộc khác tôn trọng. 2. Các dân tộc sẽ phải tôn trọng các hiệp ước và các công cuộc kinh doanh. 3. Các dân tộc bình đẳng và là các bên tham gia ký chúng. 4. Các dân tộc sẽ phải tôn trọng nghĩa vụ không can thiệp. 5. Các dân tộc có quyền bảo vệ mình nhưng không có quyền phát động chiến tranh vì bất kỳ lý do gì ngoài bảo vệ chủ quyền của mình. 6. Các dân tộc phải tôn trọng quyền con người. 7. Các dân tộc phải tôn trọng những giới hạn cụ thể nhất định về đạo đức chiến tranh. 8. Các dân tộc có nghĩa vụ hỗ trợ những xã hội sống trong điều kiện không thuận lợi vốn ngăn cản họ có được cơ chế chính trị xã hội công bằng hoặc tốt đẹp”
5.2. Nghĩa vụ hỗ trợ trong quan hệ quốc tế
Quan niệm của Rawls về nghĩa vụ hỗ trợ giữa các xã hội dựa trên quan niệm của ông về nhân quyền. Rawls phân biệt nhân quyền với các quyền dân chủ tự do được chủ nghĩa tự do chính trị yêu cầu. Nhân quyền được nhận thức như một loại quyền đặc biệt qui định những tiêu chuẩn cụ thể của các thể chế chính trị có khuôn phép. Từ chối quyền bầu cử hay quyền tự do hoạt động nghệ thuật của con người là xâm phạm nghiêm trọng đến công lý tự do nhưng điều đó không nghiêm trọng bằng việc từ chối cho họ quyền được sống, họ bị tra tấn hay bắt làm nô lệ, hoặc bắt giam họ vì lý do tôn giáo. Các dân tộc độc lập có nghĩa vụ hỗ trợ các xã hội bị gánh nặng, phù hợp với nhu cầu cơ bản của họ để họ có thể trở thành thành viên độc lập trong xã hội của các dân tộc có trật tự tốt.
6. Luận thuyết về Công lý
1. Từ bối cảnh và truyền thống triết học Tây phương, Rawls muốn dựng lên một triết thuyết mới. Trong Lời nói đầu, Rawls giải thích mục đích của tác phẩm rằng,
Trong hầu hết các triết thuyết về đạo đức cận đại thì các hệ thuyết đều có nội dung chủ nghĩa “hữu dụng” (utilitarianism). Một trong những lý do là “hữu dụng luận’ đã được cổ vỏ bởi nhiều triết gia lừng danh với một dòng tư tưởng đáng nể phục trên cả tầm mức lẫn phẩm chất. Có lúc chúng ta cũng đã quên rằng những lý thuyết gia theo trường phái hữu dụng như Hume, Adam Smith, Bentham và Mill đã là những nhà lý thuyết về xã hội học và kinh tế học hàng đầu; và chủ thuyết mà họ đưa ra đã dành cho nhu cầu rộng lớn hơn trong một cơ đồ lý thuyết phổ quát. Những chỉ trích về thuyết hữu dụng đều chỉ nằm ở mức độ giới hạn khi nhắm đến tính chất mơ hồ của tính hữu dụng và sự mâu thuẫn và không tương đồng giữa chủ thuyết hữu dụng với những hệ quả từ nó cũng như là cảm nhận đạo đức (tự nhiên) của chúng ta. Tôi tin rằng họ (những người chống hữu dụng luận) đã không kiến tạo được một ý niệm đạo đức khả thi mang tính hệ thống để đối đầu với hữu dụng luận. Từ đó, chúng ta thường bị bắt buộc chọn lựa giữa hai vế của hữu dụng luận và trực giác luận (intuitionism).
Lý Thuyết của Rawls là một con đường khác, tránh được sự kẹt lối đạo đức của hữu dụng luận và tính mơ hồ của trực giác luận. Hữu dụng luận quan niệm rằng công lý được quyết định bằng công thức, “Cái tổng kết thỏa đáng nhất cho tổng số cá nhân tham dự” (The greastest net balance of satisfaction summed over all the individuals belonging to it). Điều này có nghĩa là công lý phải bảo đảm việc tạo ra lợi ích (thỏa mãn) tổng hợp lớn nhất cho cộng đồng, mà lợi ích tổng hợp lớn nhất này là lợi ích của mọi cá nhân tham dự cộng lại, dù trong đó, sự thỏa mãn cho mỗi cá nhân không đồng đều, ngay cả tăng lên hay giảm xuống. Trong khi đó trực giác luận nhấn mạnh đến khả năng cảm nhận đạo đức và giá trị trong mỗi hoàn cảnh mà lý tính không có khả năng biện minh qua sự phán đoán hay tính toán lợi hại được.
Tuy nhiên, Lý Thuyết của Rawls vẫn nằm trong truyền thống khế ước xã hội vốn đã được khai phá bởi nhiều triết gia Tây phương xưa nay từ Locke, Rousseau đến Kant.(7) Trong suốt cả tập sách gần 600 trang, Rawls đến cập đến Marx rất ít, chỉ nói phớt sơ qua chỉ có một câu, và còn lại là một vài chú thích ngắn.(8) Trong cuốn Restatement thì Rawls coi Marxism là một chủ nghĩa thuần lý tưởng mà trên bình diện lý thuyết đã vượt qua biên độ của nguyên tắc công lý và quyền hạn khi những nhu cầu này đã không còn là những vấn nạn; và trong cuốn Restatement cũng có đưa ra những trả lời cho những chỉ trích từ cơ sở chủ thuyết Marxism.
2. Luận đề căn bản của Rawls là “Công lý là công bằng,” (Justice as fairness). Mục tiêu là nhằm xây dựng một cơ sở nguyên tắc công lý nhằm cai quản một trật tự xã hội ổn định và đa nguyên lý. Nguyên tắc công lý này được đặt trên nền tảng những cá nhân tự do và bình đẳng (free and equal persons) với quyền hạn và trách nhiệm, quyền tự do chính trị và quyền tự do cá nhân (personal and political liberties) và quyền bình đẳng cơ hội trong một cơ chế xã hội muốn xếp đặt quyền lợi và cơ hội thăng tiến cho mọi người, đặc biệt là những thành phần ít lợi thế nhất (the least advantaged).
3. Rawls bắt đầu hệ thống luận thuyết của mình từ nền tảng một cá thể thuần lý thuyết (a theoretical person) bị bao phủ bởi một “màn che vô minh”, veil of ignorance, muốn phác họa một xã hội công lý trong khi không biết thế đứng hay địa vị xã hội (social status) của mình. Từ vị thế khách quan này, cá thể xây dựng định chế công lý cho xã hội mà không bị quyền lợi và tính chủ quan đánh mất tính khả thi, hợp lý và công minh cho hệ thống mà mình muốn xây dựng lên cho toàn thể xã hội đa nguyên lý cho nhiều thế hệ. Rawls gọi bước đi từ vô minh này là “vị thế nguyên khởi” (original position) để từ đó, con người lý thuyết qua tiến trình có tính thủ tục thuần tuý (pure procedural process) có thể tạo dựng một tập hợp các nguyên tắc công lý cho mọi người, nhất là giới thấp nhất và kém lợi thế nhất.
4. Luận thuyết công lý này mang bản chất khế ước xã hội mà trong đó cá thể đồng ý dựng nên định chế cho mình, cho xã hội, và đồng ý bị cai chế (regulate) bằng hệ thống định chế này – cho dù trên cơ sở đặc thù cá nhân, họ có thể sẽ không được hưởng những quyền hạn và quyền lợi tối đa nếu tuân thủ theo. Đây là một ý niệm liên đới (associational conception) trong mối tương quan giữa những hội viên của một tập hợp đa dạng và đa nguyên lý. Quan niệm liên đới này mang bản sắc chính trị trên cơ sở quốc thể hiện đại (modern nation-state). Quốc thể (nhà nước-quốc gia) này là một đơn vị xã hội, “một hệ thống công bằng trên sự hợp tác bình đẳng qua thời gian, từ thế hệ này sang thế hệ khác.” Tính liên đới này là của những công dân trong một định chế cấu trúc cơ bản của xã hội (basic structure of society) mà họ “bước vào bằng sinh và bước ra với tử.”
5. Bởi vì đây là một quan niệm chính trị, “công lý trên cơ sở công bằng” không phải là một hệ thống lý thuyết toàn diện (comprehensive doctrine) về đạo đức, triết học hay là siêu hình. Một luận thuyết về công lý nếu mang tham vọng toàn diện, comprehensive, sẽ tự nó mang tính mâu thuẫn nội tại trên bình diện logic và nội dung. Trong điều kiện chính trị và xã hội của các định chế tự do, vấn đề đương nhiên phải chấp nhận là sự hiện diện đồng thời những hệ thống giá trị và chủ thuyết khác nhau, bất tương đồng, mà không ít chủ thuyết trong số này mang tính chất quá khích và thiếu lý tính. Ý tưởng này là cột trụ chính trong tác phẩm Political Liberalism (Chính trị cấp tiến) (1993) mà trong đó, Rawls tái trình bày và sửa chữa lại những gì đã đưa ra trong Luận Thuyết. Chính trị cấp tiến công nhận và đương đầu với sự thể đa nguyên hợp lý/vừa phải (the fact of reasonable pluralism) bằng cách chứng tỏ rằng một tư tưởng chính trị có thể thích hợp với sự kiện đa nguyên lý của thực tế tư tưởng và ý thức hệ trong một xã hội . Điều này chính là sự “thỏa thuận chồng chéo” (overlapping consensus) giữa những luận thuyết công lý toàn diện. Tuy nhiên, ý niệm công lý trên cơ bản chính trị không cho phép nó nhân danh tính phổ cập và toàn cầu trên cơ sở giá trị và chân lý – vì nó không phải là một tư tưởng siêu hình hay tôn giáo. Ví dụ không thể minh định bản thể luận về con người hay là sự tốt đẹp tuyệt đối bằng một luận thuyết chính trị được.
6. Một quan niệm chính trị về công lý (a political conception of justice) có ba yếu tố: Thứ nhất, nó là một quan niệm đạo đức đặc thù cho các mục tiêu và điều hành của các định chế chính trị, xã hội và kinh tế. Rawls gọi những định chế này là cấu trúc căn bản (basic structure), mà trong đó, tất cả những cơ chế và định chế kết hợp lẫn nhau thành một hệ thống điều hợp xã hội từ thế hệ này qua thế hệ khác. Thứ hai, quan niệm này không dựa trên hay bắt nguồn từ một chủ thuyết toàn diện nào, mặc dù nó có thể mang bản sắc của một hệ thống khái niệm và lý luận và cũng có thể được biện minh từ một hệ thống tư tưởng toàn diện khác. Thứ ba, nó cũng đặt cơ sở trên một bối cảnh văn hóa chính trị công cộng (public political culture) trong một xã hội dân chủ.
7. Bốn vai trò cho triết học chính trị: Điều quan yếu nhất vẫn là nhu cầu giải quyết vấn nạn trật tự nhằm đi đến một đồng thuận chính trị – mà trong đó, thứ nhất là sự hóa giải mâu thuẫn về tư tưởng. Hãy thử nhìn những mâu thuẫn của siêu hình học trên cơ sở tôn giáo trong lịch sử Tây Âu vốn đã đặt ra những vấn nạn lớn cho triết học chính trị – và là nguồn gốc của chủ nghĩa cấp tiến (liberalism) trên nguyên tắc dung thứ (toleration) của Locke, Montesquieu, Hobbes. Muốn giải quyết mâu thuẫn tư tưởng thì phải tìm ra một cơ sở rộng lớn hơn để có thể đem những phương diện nhỏ của những yếu tố mâu thuẫn về lại với nhau. Trường hợp mâu thuẫn tư tưởng giữa tự do và công bằng là một đặc trưng. Sự khác biệt căn bản về hai ý niệm chính trị này đã tạo ra những mâu thuẫn của định chế chính trị, kể cả chiến tranh. Ngay trong ý niệm quyền tự do (liberties) cũng có những mâu thuẫn về sự phân định về quyền hạn, giữa cái gọi là “tự do của người xưa” (liberties of the ancients) bao gồm sự bình đẳng về quyền tự do chính trị và giá trị của đời sống công cộng (equal political liberties and values of public life), đối với “tự do của người đời nay” (moderns) bao gồm tự do tư tưởng, niềm tin, lương tâm, tự do về tài sản và thân thể, và quy tắc pháp chế.