1. Những khó gặp phải khi giải quyết ly hôn đơn phương?

Việc ly hôn đơn phương thường phát sinh nhiều khó khăn như: Bị đơn bỏ đi khỏi nơi cư trú, bị đơn không hợp tác, không đủ giấy tờ giải quyết... Luật Minh Khuê tư vấn vài giải đáp một số trường hợp pháp lý cụ thể như sau:

Trả lời:

Thủ tục ly hôn bao gồm:

  1. Đơn xin ly hôn;
  2. Bản sao Giấy khai sinh của các con;
  3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của cả 2 vợ chồng
  4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì phải xin xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký kết hôn.

Về vấn đề chia tài sản sau khi ly hôn

Căn cứ theo Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn ...

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

Về vấn đề chia con chung khi ly hôn:

Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

  1. Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
  2. Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
  3. Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

=> Vậy đối với đơn phương ly hôn thì phải nộp hồ sơ tại TAND cấp huyện nơi mà người còn lại cư trú.

Điểm b khoản 2 Điều 39 quy định:

"b) Toà án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;"

 

2. Ly hôn đơn phương khi không muốn nhận nuôi con?

Thưa luật sư xin cho tôi hỏi tôi và chồng tôi không xảy ra mâu thuẫn gì .Nhưng do hai bên không còn yêu nhau nên chúng tôi quyết định ly hôn . Chúng tôi cũng không còn sống cùng nhau 2 năm rồi con tôi thì ở bên nội. Xin cho tôi hỏi tôi muốn làm giấy đơn phương thì có được không và ̀ tôi không muốn giành quyền nuôi con vậy tôi phải làm đơn thế nào ?
Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Thứ nhất về việc bạn có làm giấy đơn phương ly hôn được không.

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Theo quy định này, pháp luật cho phép vợ hoặc chồng đơn phương ly hôn. Tuy nhiên, nếu như thuận tình ly hôn thì Tòa án xem xét sự thuận tình, tự nguyện của các bên, còn đơn phương ly hôn thì Tòa án lại xem xét chủ yếu căn cứ mà bên đơn phương ly hôn đưa ra. Điều luật quy định rằng: "hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được".

Giải thích cho căn cứ này, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng quy định của Luật HN&GĐ cũ quy định như sau:

"a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt".

Như vậy, khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án bạn phải chứng minh về việc cuộc hôn nhân của vợ chồng bạn không hạnh phúc và không thể kéo dài được nữa, bạn có thể đưa ra dẫn chứng là bạn đã không còn sống chung trong hai năm rồi, cả hai không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau nữa.

Thứ hai về việc bạn không muốn giành quyền nuôi con sau khi ly hôn.

Theo điều 81 quy định về việc nuôi dưỡng con sau khi ly hôn như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo đó nếu con bạn dưới 36 tháng tuổi( 3 tuổi ) thì về nguyên tắc bạn sẽ là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn trừ khi bạn không có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con, chứ bạn không có quyền từ chối nuôi con trong trường hợp này

Trường hợp nếu con đã đủ 36 tháng tuổ trở lên thì hai vợ chồng bạn sẽ thỏa thuận để một trong hai người nuôi con, nếu bạn không muốn trực tiếp nuôi con thì bạn có thể thỏa thuận với chồng để chồng nuôi, nếu con bạn từ đủ 7 tuổi thì phải xem nguyện vọng của cháu muốn ở cùng ai. Trường hợp nếu bạn và chồng không thỏa thuận được thì Tòa Án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con: như điều kiện về kinh tế, nơi ở, văn hóa ....trong trường hợp này nếu điều kiện của bạn tốt hơn của chồng thì bạn phải trực tiếp nuôi dưỡng con.

Ngoài ra cho dù bạn không trực tiếp nuôi dưỡng con thì bạn vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, bạn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đôí với con theo quy định đến khi con đủ 18 tuổi.

>> Tham khảo: Hướng dẫn thủ tục ly hôn đơn phương theo luật hôn nhân gia đình?

 

3. Thủ tục ly hôn đơn phương khi không có tin tức của chồng?

Thưa luật sư cho em hỏi, bạn của em là nữ thường trú tại hậu lộc thanh hóa đã kết hôn với một người ở phú thọ từ năm 2009, Sau khi đăng kí kết hôn lại sống tại hậu lộc thanh hóa và năm 2010 người chồng bỏ nhà đi từ đó không về và cũng không có tin tức gì, vậy giờ bạn em muốn ly hôn thì phải làm thế nào và ai có thể giúp bạn em, xin luật sư cho em biết ạ?. Em xin cảm ơn !

Trả lời:

Về nguyên tắc, khi đơn phương ly hôn, nếu đương sự không cung cấp được chỗ ở cụ thể (để liên lạc được) của vợ/chồng thì có thể tòa án sẽ từ chối thụ lý. Nhưng, luật có quy định, trong trường hợp này, bạn của bạn có thể cung cấp địa chỉ cuối cùng (nơi đăng ký hộ khẩu hoặc tạm trú) của chồng bạn ấy cho tòa án. Nếu tòa không liên lạc được với anh ấy, thì sẽ cho niêm yết (tại địa chỉ đã được cung cấp) quyết định đưa vụ việc ra xét xử. Nếu người chồng vẫn không hợp tác, tòa án sẽ xét xử vắng mặt”.

Nếu trường hợp Tòa án vẫn không thụ lý hoặc bạn bạn không biết dịa chỉ của chồng, bạn ấy có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố là “người mất tích”. Vì theo qui định tại Luật hôn nhân gia đình và Bộ luật dân sự thì “trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn”.

Quy định tại điều 68 Bộ luật dân sự 2015 và Luật hôn nhân và gia đình 2014 về việc tuyên bố một người mất tích như sau:

Điều 68. Tuyên bố mất tích

1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Theo đó chồng bạn ấy bỏ đi từ năm 2010 đến này đã được 5 năm mà không có một tin tức gì thì bạn bạn có thể yêu cầu tòa án tuyên bố anh ấy mất tích, sau đó tiến hành làm thủ tục ly hôn

Về thủ tục, để tòa tuyên bố chồng bạn bạn mất tích thì trước hết bạn bạn phải có “Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích” gửi tòa án. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bạn, Toà án sẽ ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Thời hạn thông báo là bốn tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên. Sau đó, trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày hết thời hạn công bố thông báo, Toà án sẽ mở phiên họp xét đơn yêu cầu của bạn và nhiều khả năng sẽ chấp nhận đơn yêu cầu của bạn.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục ly hôn đơn phương và mẫu đơn xin ly hôn đơn phương?

 

4. Yêu cầu ly hôn đơn phương và nuôi con khi chồng không có đủ điều kiện?

Thưa luật sư! Tôi xin giới thiệu sơ qua về tình hình hôn nhân của tôi để luật sư nắm được và tư vấn giúp tôi . Tôi xin cám ơn! Tôi năm nay 36 tuổi hiện sống và làm việc tại hà nội (tôi làm việc cho cơ quan nhà nước nên có lương thu nhập cố định hàng tháng ngoài ra tôi có thể làm thêm nhưng không cố định lương. Lương hàng tháng của tôi hơn 7tr). Tôi có 2 con trai bé lớn năm nay 7 tuổi , bé 2 năm nay 3 tuổi. Chồng tôi kém tôi 1 tuổi năm nay 35 tuổi hiện tại không có công ăn việc làm và không đóng góp được đồng nào cho kinh tế gia đình. Chúng tôi không có nhà phải đi thuê.

Chồng tôi đã nhiều năm nay hay uống bia rượu về say xỉn thì đánh đập chửi bới vợ con. Xúc phạm tới danh dự của tôi nhiều lần. Tôi muốn chấm dứt cuộc hôn nhân không có tiếng nói chung này. Xin luật sư tư vấn giúp tôi các bước tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương. Và trong thời gian chờ thụ lý tôi muốn được quyền chăm sóc 2 con mà chồng không cho tôi có thể kiện ra tòa được không? Tôi phải làm gì để có thể dành quyền nuôi 2 con kể cả trong thời gian chờ tòa giải quyết.

Tôi xin cảm ơn !

Trả lời:

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn."

Để có căn cứ chứng minh tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thực hiện theo quy định tại mục 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP như sau:

"8. Căn cứ cho ly hôn (Điều 89)

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.

a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt."

Theođó bạn pải chuản bị hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau:

  • Đơn xin ly hôn
  • Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn
  • Bản sao có chứng thực Căn cước công dân hoặc chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng
  • Bảo sao giấy khai sinh của con (nếu có)
  • Các giấy tờ chứng minh tài sản chung (nếu có).

Hồ sơ xin ly hôn bạn sẽ nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn cư trú.

Thứ hai về quyền nuôi con :

Điều 71. Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

THeo đó trong thời gian thụ lý bạn vẫn có quyền và nghĩa vụ được chăm sóc con vì vậy nếu chồng bạn không cho bạn thực hiên thì bạn có thể báo với công an xã để nhờ họ can thiệp.

Về quyền nuôi con sau khi ly hôn:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo đó đối với người con lớn thì phải tham khảo ý kiến của cháu xem cháu muốn ở cùng ai, còn đối với cháu nhỏ thì sẽ do hai vợ chồng bạn thảo thuận, nếu hai bên không thể thao thuận được thì tóa án sẽ giao con cho một người trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào điều kiện về mọi mặt của con. Trong trường hợp này nếu bạn muốn dành quyề nuôi con thì bạn phải chứng minh được mình có đủ điều kiện về thể chất và tinh thần dành cho con tốt hơn người chồng.

>> Tham khảo bài viết liên quan:

  • Cách thức để xin ly hôn đơn phương nhanh nhất và không rắc rối kéo dài?
  • Ly hôn đơn phương nhưng vợ hoặc chồng không đồng ý ký đơn xử lý thế nào?

 

5. Án phí thủ tục ly hôn đơn phương tính thế nào?

Thưa luật sư: Tôi và chồng có nhiều xích mích cả trong công việc lẫn gia đình nhiều lần cãi nhau và chồng tôi có dùng bạo lực. Chồng tôi còn đưa tôi về nhà mẹ đẻ tôi, tôi và chồng cũng đã không sống cùng nhau được một năm rưỡi rồi có một con chung nhưng ở với chồng tôi . Nhiều lần tôi có nói ly hôn thì chồng tôi không kí giấy ly hôn. Tôi muốn hỏi bây giờ tôi muốn ly hôn đơn phương thì sau bao lâu tôi sẽ được tòa chấp nhận và nếu ly hôn đơn phương như vậy tôi phải mất bao nhiêu chi phí cho tòa?. Tôi xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Thủ tục ly hôn đơn phương như sau:

- Nộp hồ sơ tại TAND cấp huyện nơi chồng bạn cư trú và làm việc.

- Hồ sơ xin ly hôn đơn phương gồm có:

  • Đơn xin ly hôn đơn phương (theo mẫu của từng Tòa);
  • Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);
  • Sổ hộ khẩu (bản sao có chứng thực)
  • Căn cước công dân hoặc CMND/hộ chiếu (bản sao có chứng thực);
  • Giấy khai sinh của con (bản sao có chứng thực - nếu có);
  • Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐQSHNƠ (sổ đỏ); đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao);

- Thời hạn giải quyết: 4 đến 6 tháng

>> Theo đó, nếu bạn khởi kiện ly hôn chồng, bạn sẽ phải nộp án phí sơ thẩm. Mức án phí dân sự sơ thẩm bạn phải nộp là 300.000 đồng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!