Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn;

Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản hướng dẫn.

2. Hợp đồng dân sự là gì?

Theo phương diện chủ quan, họp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thoả thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định. Theo phương diện này, họp đồng dân sự vừa được xem xét ở dạng cụ thể vừa được xem xét ở dạng khái quát. Nếu định nghĩa dưới dạng cụ thể thì "hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng" (Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991). Sự liệt kê cụ thể bao giờ cũng roi vào tình trạng không đầy đủ và để quy định của pháp luật có thể bao trùm được toàn bộ các hợp đồng dân sự xảy ra trong thực tế, Bộ luật dân sự đã định nghĩa nó ở dạng khái quát hơn:

'''Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chẩm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự" (Điều 385 Bộ luật dân sự năm 2015).

Như vậy, hợp đồng dân sự không chỉ là sự thoả thuận để một bên chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thoả thuận để thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó. Hợp đồng dân sự (nghĩa chủ quan) và pháp luật về hợp đồng dân sự (nghĩa khách quan) là hai khái niệm không đồng nhất với nhau.

3. Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là gì?

3.1 Nhưng nguyên tắc cơ bản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015:

Pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về hợp đồng nói riêng theo truyền thống dân luật. Các thay đổi gần đây tại Bộ luật Dân sự 2015 đã nhấn mạnh và cho phép áp dụng các nguồn khác của pháp luật nhưng về cơ bản pháp luật Việt Nam, trong đó có pháp luật về hợp đồng, vẫn dựa trên pháp luật thành văn. Do pháp luật thành văn khó có thể quy định hết các vấn đề có thể phát sinh trên thực tế, Bộ luật Dân sự 2015 cho phép việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của “pháp luật dân sự”, án lệ và lẽ công bằng khi pháp luật về họp đồng không quy định về một vấn đề cụ thể và không thể áp dụng tương tự pháp luật trong trường hợp này. Theo quy định tại Điều 3 bộ luật Dân sự 2015 quy định năm nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là:

1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.

2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của thuật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.

4.Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

“Pháp luật dân sự” có lẽ là một khái niệm quy ước để chỉ pháp luật tư của Việt Nam nói chung với một bộ phận quan trọng là pháp luật về hợp đồng. Có thể hiểu là các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự cũng là các nguyên tắc cơ bản áp dụng trong pháp luật về hợp đồng.

Năm nguyên tắc cơ bản trên có tính, chất định hướng, về lý thuyết, nguyên tắc cơ bản của pháp luật về họp đồng có vai trò quan trọng, đặc biệt trong việc giải thích và áp dụng linh hoạt và thống nhất các nguồn của pháp luật về hợp đồng cũng như bảo vệ chủ quyền pháp lý của Việt Nam.

Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 là hai văn bản pháp luật quan trọng nhất trong pháp luật về họp đồng. Trong trường hợp có sự xung đột giữa Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005, quy định của Luật Thương mại 2005 chỉ được áp dụng nếu không trái với các nguyên tắc cơ bản được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015. Liên quan đến quan hệ giữa các nguồn khác của pháp luật về hợp đồng, bản thân các nguyên tắc cơ bản cũng là một nguồn của pháp luật về họp đồng và tập quán chỉ được áp dụng khi không trái với các nguyên tăc cơ bản được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015.

Các nguyên tắc cơ bản trên cũng quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền pháp lý và là bảo lưu then chốt của Việt Nam trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài và việc công nhận và thi hành bản án và quyết định của tòa án và trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Pháp luật nước ngoài do các bên lựa chọn chỉ được áp dụng khi hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Trong khi đó, bản án và quyết định của tòa án và trọng tài nước ngoài chỉ được công nhận và cho thi hành nếu việc công nhận và cho thi hành không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam bao gồm năm nguyên tắc cơ bản được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 và các nguyên tắc cơ bản của các ngành luật khác.

3.2 Những nguyên tắc mang ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng:

Bản chất của các nguyên tắc cơ bản là các quy định mang tính khái quát cao. Bản thân các nguyên tắc cơ bản không chứa đựng các quy phạm pháp luật cụ thể và pháp luật cũng không đưa ra chế tài hoặc biện pháp khắc phục cụ thể đổi với vi phạm nguyên tắc cơ bản. Do vậy, vai trò cơ bản của các nguyên tắc cơ bản là để giải thích nguyên tắc pháp lý có thể áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý chưa được quy định trong các quy định của pháp luật hoặc được quy định nhưng không rõ ràng. Rất nhiều nội dung được phân tích trong cuốn sách này dựa trên phân tích về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng.

Trong số các nguyên tắc cơ bản nêu trên, ba nguyên tắc có ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng đối với pháp luật về hợp đồng là tự do thỏa thuận, bảo vệ lợi ích công cộng và thiện chí, trung thực. Nguyên tắc tự do thỏa thuận và nguyên tắc bảo vệ lợi ích công cộng thường gắn liền và có tác động tương hỗ với nhau, đảm bảo cho quan hệ hợp đồng được xác lập có sự cân bằng về lợi ích, đảm bảo các bên tôn trọng lợi ích của nhau và đồng thời không xâm phạm đến lợi ích công cộng. Khác với nguyên tắc tự do thỏa thuận hay nguyên tắc bảo vệ lợi ích công cộng, nguyên tắc thiện chí, trung thực hướng đến “thiện ý” của các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng.

4. Quy định chung về hợp đồng dân sự

Thuật ngữ hợp đồng dân sự còn được hiểu là quan hệ dân sự phát sinh từ hợp đồng dân sự hay văn bản trong đó chứa đựng các yếu tố và điều khoản của hợp đồng dân sự. Theo quy định của pháp luật, mọi chủ thể của luật dân sự đều có thể là các bên trong hợp đồng dân sự. Hợp đồng dân sự là một tròng các căn cứ hợp pháp, phổ biến, thông dụng làm phát sinh các hậu quả pháp lí với các đặc trưng của quan hệ pháp luật dân sự, trong đó, quyền tự định đoạt của các chủ thể tham gia quan hệ được thể hiện đầy đủ nhất.

Nội dung của hợp đồng dân sự bao gồm các điều khoản xác định quyền, nghĩa vụ của các bên, trách nhiệm của các bên khi không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng dân sự. Các điều khoản của hợp đồng dân sự bao gồm: điều khoản cơ bản, điều khoản thông thường, điều khoản tuỳ nghỉ. Điều khoản cơ bản là điều khoản bắt buộc phải có trong hợp đồng dân sự, được coi là điều kiện cần và đủ để hình thành một hợp đồng dân sự. Điều khoản thông thường là điều khoản không buộc các bên phải thoả thuận. Chúng đã được quy định trong các văn bản pháp luật, nếu các bên không thoả thuận thì sẽ áp dụng theo các quy định của pháp luật hoặc được áp dụng theo tập quán nếu không trái với các nguyên tắc cơ bản của luật dân sự. Điều khoản tùy nghỉ là điều khoản do các bên thỏa thuận.

Theo nguyên tắc chung, một trong các bên tham gia hợp đồng dân sự không thể tự ý thay đổi nội dung của hợp đồng dân sự, nếu vi phạm hợp đồng dân sự thì phải chịu trách nhiệm, tuỳ thuộc vào mức độ vi phạm và hậu quả của việc vi phạm đó. Việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ các quy định của các văn bản pháp luật liên quan.

Pháp luật dân sự chỉ quy định một số hợp đồng dân sự thông dụng, thường gặp với tính chất đơn giản, đặc trưng cho hợp đồng dân sự đó. Tuy nhiên, về mặt nguyên tắc, những thoả thuận không trái pháp luật, đạo đức xã hội và tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự đều có thể coi là hợp đồng dân sự.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê