1. Khái quát pháp luật quốc tế về hợp đồng điện tử

Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ký kết một số Điều ước quốc tế như TPP, đang quan tâm để tham gia Công ước về giao dịch điện tử của Liêp hợp quốc năm (Công ước 2005). Trên thực tế, khi xây dựng khung pháp luật về TMĐT nói chung và hợp đồng điện tử nói riêng, Việt Nam đã tiếp thu các nguyên tắc, nội dung cơ bản của Luật Mẫu về thương mại điện tử cũng như Luật Mẫu về chữ ký điện tử. Cả hai Luật Mẫu này đều do Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) ban hành. Với mục đích áp dụng một cách thống nhất và hài hòa trong các giao dịch thương mại điện tử của các quốc gia thành viên, Công ước Liên hợp quốc về sử dụng truyền thông điện tử trong hợp đồng quốc tế (Công ước TMĐT) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 23/11/2005 tại New York, Hoa Kỳ, Công ước này mới có hiệu lực kể từ ngày 1/3/2013 khi có 3 nước phê chuẩn là Dominican, Honduras và Singapore. Hiện nay Công ước này đã được18 quốc gia tham gia ký kết và một quốc gia gia nhập.Công ước 2005 về TMĐT bao gồm 4 chương và 25 điều quy định về việc sử dụng thông tin điện tử trong hợp đồng quốc tế, công nhận giá trị pháp lý cho hợp đồng điện tử, các yêu cầu về hình thức, thời gian và địa điểm liên quan đến chứng từ điện tử, lời đề nghị giao kết hợp đồng hay sử dụng hệ thống thông tin tự động hay tình huống lỗi nhập thông tin. Hiện nay Việt Nam chưa ký kế hay gia nhập Công ước Liên hiệp quốc về sử dụng truyền thông điện tử trong hợp đồng quốc tế ngày 23/11/2005 nhằm ràng buộc các trách nhiệm pháp lý trong hệ thống pháp luật của mình trong lĩnh vực thương mại điện tử, tuy nhiên việc gia nhập sẽ giúp Việt Nam tiếp cận các chuẩn mực pháp lý quốc tế cũng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
Để hạn chế các xung đột khi các cá nhân tổ chức ở các quốc gia khác nhau thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa dịch vụ, Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) đã ban hành Luật Mẫu về thương mại điện tử ngày 12/6/1996 (Sửa đổi năm 1998) với hai phần gồm 17 điều. Luật mẫu được soạn thảo dựa trên các nguyên tắc cơ bản như:
- Tương đương thuộc tính, hay công nhận giá trị pháp lý như văn bản.
- Tự do thoả thuận hợp đồng.
- Tôn trọng việc sử dụng tự nguyện phƣơng thức truyền thông điện tử.
- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Xác định thời điểm, nơi gửi và nhận thông điệp dữ liệu.
- Giá trị pháp lý của hợp đồng và tính ưu việt của những quy định pháp lý về hình thức hợp đồng: những đòi hỏi đối với hợp đồng để có giá trị pháp lý và khả năng được thi hành phải được tôn trọng.
Việc xây dựng, ban hành Luật Mẫu về thương mại điên tử được nhiều Quốc gia thành viên tiếp thu những nguyên tắc, nội dung cơ bản để xây dựng pháp luật về thương mại điện tử cho riêng mình.Để bảo đảm an toàn cho các giao dịch điện tử, việc xây dựng Luật Mẫu về chữ ký điện tử đã đươc Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) ban hành ngày 5 tháng 7 năm 2001 nhằm mục đích khuyến nghị các quốc gia thành viên xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến sử dụng chữ ký điện tử một cách thống nhất hoặc ít có khác biệt.
Luật Mẫu về chữ ký điện tử với 12 điều, với các nguyên tắc cơ bản như: Nguyên tắc tương đương chức năng, nguyên tắc không phân biệt và trung lập về công nghệ. Ngoài các nguyên tắc, Luật Mẫu về chữ ký điện tử còn quy định một số nội dung cơ bản như sau:
- Công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử.
- Những điều kiện để chữ ký điện tử đảm bảo độ an toàn và tin cậy v.v... Việc xây dựng Luật Mẫu về chữ ký điện tử đã đưa ra các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật và các điều kiện đảm bảo giá trị hiệu lực của chữ ký điện tử. Hiện nay, nhiều quốc gia thành viên đã tiếp thu những nguyên tắc và nội dung cơ bản của Luật Mẫu về chữ ký điện tử trong pháp luật của mình.

2. Pháp luật về hợp đồng điện tử của một số quốc gia trên thế giới

2.1 Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là nước đi đầu trong lĩnh vực thương mại điện tử, tháng 7 năm 1999, Hiệp hội các thanh tra viên về pháp luật các tiểu bang Hoa Kỳ đã thông qua Luật mẫu về các giao dịch điện tử và gửi cho các cơ quan lập pháp ở từng bang để thông qua và ban hành dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản là: (i) Các bên được tự do xác lập quan hệ hợp đồng với nhau khi thấy phù hợp; (ii) Các quy định phải có tính chất trung lập về mặt công nghệ và phải có tính mở cho tương lai, có nghĩa là không được quy định về một loại công nghệ cụ thể nào đó và không được hạn chế việc sử dụng hay phát triển của các công nghệ tương lai; (iii) Các quy định hiện hành cần được sửa đổi, bổ sung và ban hành mới trong trường hợp cần thiết để hỗ trợ cho việc sử dụng công nghệ điện tử; (iv) Các quy định phải công bằng cho cả các doanh nghiệp đã áp dụng rộng rãi các công nghệ mới và các doanh nghiệp còn chưa áp dụng. Nhằm tạo lập một khung pháp lý thống nhất cho giao dịch thương mại điện tử ở Hoa Kỳ. Ngày 30/6/2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã ký Luật Thương mại quốc gia và quốc tế về chứ ký điện tử. E-Sign thừa nhận chữ ký điện tử có giá trị pháp lý tương đương giá trị chữ ký truyền thống trong ký kết hợp đồng và không thể bị phủ nhận hay từ chối chỉ vì lý do đó là chữ ký điện tử. Luật E-Sign của Hoa Kỳ ra đời đã đánh dấu một mốc quan trọng về mặt pháp lý cho các giao dịch điện tử nói chung và hợp đồng điện tử nói riêng. Riêng đối với doanh nghiệp Hoa Kỳ, E- Sign được ban hành đã tạo môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ sử dụng chữ ký số hoá trong các giao dịch điện tử. Luật thống nhất về Giao dịch điện tử là một văn bản ngắn gọn, quy định về sự công nhận giá trị pháp lý của các dữ  liệu điện tử, chữ ký điện tử và các văn bản điện tử khác. Văn bản này không quy định bất kỳ ưu thế nào cho bất kỳ một phương thức hay công nghệ nào.
Luật mẫu về các giao dịch điện tử là một văn bản có tính linh hoạt cao có thể tồn tại lâu dài và là cơ sở pháp lý phù hợp cho các giao dịch thương mại điện tử trong suốt một giai đoạn dài.

2.2 Canada

Để tạo một môi trường pháp lý hoàn chỉnh cho các giao dịch thương mại điện tử, Chính phủ Canada đã tiến hành rà soát, sửa đổi các văn bản hiện hành đồng thời ban hành các văn bản mới liên quan đến thương mại điện tử như luật về chữ ký điện tử, chứng cứ điện tử v.v... Luật về Chữ ký điện tử của Canada cho phép các cơ quan liên bang quyền quyết định các yêu cầu của pháp luật hiện hành về hình thức giao dịch có thể được thoả mãn bằng các phương tiện điện tử như thế nào. Chữ ký điện tử có thể được sử dụng trong các giao dịch thương mại điện tử.
Vấn đề đặt ra là phải xác định được mối liên hệ giữa chữ ký điện tử với người ký tài liệu điện tử. Hiện nay, Canada đã có các quy định pháp luật về thu thập, sử dụng và tiết lộ thông tin về cá nhân do các cơ quan nhà nước quản lý. Luật bí mật cá nhân liên bang có hiệu lực từ năm 1982, được áp dụng đối với tất cả các cơ quan nhà nước cấp liên bang và một số doanh nghiệp có quy mô liên bang.
Gần đây, Canada đã ban hành Luật Bảo vệ thông tin cá nhân và tài liệu điện tử. Đây là một bước tiến mới trong việc bảo vệ thông tin cá nhân. Ngoài ra các cơ quan nhà nước còn phải tuân thủ luật về quyền riêng tư (the Privacy Act).
Về vấn đề thuế, hiện nay Canada đang cùng một số thành viên khác của OECD phát triển chiến lược quốc tế trong đó có các hiệp ước về thuế đối với thương mại điện tử, hướng dẫn xử lý việc chuyển giá, về việc áp dụng thuế tiêu thụ và về hàng rào thuế quan cửa khẩu.

2.3 Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, ngay từ năm 1999, Chính phủ đã xây dựng “Đạo luật cơ bản về thương mại điện tử” và chuẩn bị một loạt các đạo luật liên quan đến thương mại điện tử, liên tục nâng cao khuôn khổ pháp lý thương mại điện tử bằng cách chỉnh sửa luật hiện hành, ban hành luật mới. Các đạo luật chính đã được ban hành bao gồm: Luật khung về thương mại điện tử được ban hành năm 1999, sửa đổi năm 2002, 2005 đã tạo khung pháp lý trụ cột vững chắc cho các bộ luật khác về thương mại điện tử ở Hàn Quốc. Luật Bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử được ban hành năm 2002 và sửa đổi năm 2005. Luật Chữ ký điện tử được ban hành năm 1998, sửa đổi năm 2001, 2005. Luật Phát triển ngành đào tạo điện tử được ban hành năm 2004. Luật Phát triển ứng dụng mạng công nghệ thông tin và truyền thông và bảo vệ thông tin được ban hành năm 1999, sửa đổi năm 2002, 2004 và 2005. Bên cạnh đó là một số đạo luật khác như: Luật Kinh doanh tài chính về tín dụng; Luật Khuyến khích ngành nội dung số trực tuyến; Luật Sản phẩm trò chơi, sản phẩm hình ảnh và âm thanh; Luật về các nguồn địa chỉ Internet; Luật Bản quyền; Luật Chính phủ điện tử; Luật Bảo vệ chương trình máy tính; Luật Hóa đơn điện tử cũng đƣợc ban hành nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động thương mại điện tử.

2.4 Singapore

Năm 1998, Singapore cho ban hành Luật Giao dịch điện tử (Electronic Transaction Act 1998) nhằm mục đích giải quyết vướng mắc, khó khăn về mặt pháp lý khi các chủ thể tham gia vào các giao dịch trong một môi trường phi giấy tờ và không tiếp xúc trực tiếp với nhau. Nguyên tắc cơ bản để xây dựng Luật Giao dịch điện tử là nhằm: Tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế và mô hình quốc tế để có thể hoà nhập với khung pháp luật thương mại điện tử toàn cầu; tránh các quy định quá chặt chẽ; linh hoạt và trung lập về mặt công nghệ để theo kịp môi trường luôn thay đổi; quy định rõ ràng, minh bạch và có khả năng tiên liệu trước.
Mục tiêu của đạo luật là thiết lập một quy tắc thực hành (Code of Conduct) chung để hỗ trợ cho các giao dịch thương mại điện tử; xây dựng cơ sở hạ tầng về công chứng; cho phép nộp đơn, hồ sơ và cấp phép điện tử ở các cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời, làm rõ trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ mạng đối với nội dung thông tin của bên thứ ba. Luật Giao dịch điện tử của Singapore đã đưa ra những quy tắc thương mại nhằm làm rõ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong một giao dịch thương mại điện tử. Những quy tắc nằm trong đạo luật này mang các tính chất đặc trưng của những quy định mẫu quốc tế, đặc biệt là các quy định của Luật mẫu UNCITRAL về thương mại điện tử. Quy tắc thực hành chung trong Luật Giao dịch điện tử của Singapore cũng chứa đựng các điều khoản điều chỉnh việc ký kết hợp đồng qua các phương tiện điện tử thông qua việc quy định về thời gian, địa điểm gửi và nhận thông tin điện tử. Đạo luật này còn quy định về giá trị pháp lý của các bản ghi và chữ ký điện tử, cùng với độ an toàn của chúng. Mặt khác, để hỗ trợ cho việc sử dụng chữ ký điện tử, một cơ sở hạ tầng về công chứng đã được xây dựng. Theo đó, cơ quan công chứng sẽ xác nhận một mã khoá chứng thực có mối liên hệ với một cá nhân nhất định. Một cơ quan công chứng có thể xác minh về một cá nhân nào đó trước khi cấp một chứng thực dưới dạng giấy chứng nhận kỹ thuật số. Giấy chứng nhận này có thể dùng để xác minh chữ ký của cá nhân đó.
Luật Giao dịch điện tử của Singapore đã tạo một môi trường pháp lý khá phù hợp cho các giao dịch điện tử và thương mại điện tử nói chung, trong đó có hướng dẫn giao kết hợp đồng điện tử nói riêng. Đạo luật này đã xoá bỏ được những trở ngại trong các quy định pháp luật hiện hành và tạo được lòng tin cho các doanh nghiệp, cá nhân khi tham gia vào thương mại điện tử cũng như giao kết hợp đồng điện tử.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê