1. CPTPP là gì?
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là Hiệp định CPTPP, là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, gồm 11 nước thành viên là: Ốt-xtrây-li-a, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po và Việt Nam.
Hiệp định đã được ký kết ngày 08 tháng 3 năm 2018 tại thành phố San-ti-a-gô, Chi-lê, và chính thức có hiệu lực từ ngày 30 tháng 12 năm 2018 đối với nhóm 6 nước đầu tiên hoàn tất thủ tục phê chuẩn Hiệp định gồm Mê-hi-cô, Nhật Bản, Xinh-ga-po, Niu Di-lân, Ca-na-đa và Ốt-xtrây-lia. Đối với Việt Nam, Hiệp định có hiệu lực từ ngày 14 tháng 01 năm 2019.
2. Các tiêu chuẩn lao động của ILO
Với cách tiếp cận người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong thương mại quốc tế nên trước hết họ phải được hưởng thành quả của quá trình này, năm 1998, ILO đã ra Tuyên bố về những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động và đến năm 2008 tiếp tục thông qua Tuyên bố về thúc đẩy việc bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình toàn cầu hóa công bằng. Đây cũng là cách tiếp cận của các FTA thế hệ mới và đang trở thành xu thế trên toàn cầu (nếu như vào thời điểm thành lập WTO năm 1995 mới có 4 hiệp định FTA có nội dung về lao động, thì đến tháng 01 năm 2015 đã có 72 hiệp định FTA quy định về nội dung này).
Hiệp định CPTPP là một hiệp định FTA thế hệ mới có quy định nội dung về lao động, nhưng không đưa ra tiêu chuẩn riêng mà chỉ áp dụng theo các tiêu chuẩn về lao động đã được nêu trong Tuyên bố năm 1998 về Những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động của ILO, thể hiện trong 8 Công ước cơ bản, bao gồm các nội dung: (1) Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động (theo Công ước số 87 và số 98); (2) Xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc (theo Công ước số 29 và số 105); (3) Cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (theo Công ước số 138 và số 182); (4) Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp (theo Công ước số 100 và số 111).
Việt Nam là thành viên của ILO từ năm 1992, đã phê chuẩn 5/8 Công ước cơ bản của ILO (bao gồm các Công ước số 29, 100, 111, 138 và 182) và đang chuẩn bị trình cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn đối với 3 Công ước cơ bản còn lại (các Công ước số 87, 98 và 105). Nhưng theo Tuyên bố năm 1998 của ILO thì các nước thành viên dù đã phê chuẩn hay chưa phê chuẩn các Công ước cơ bản nêu trên đều có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện các tiêu chuẩn lao động được đề cập trong các Công ước đó. Như vậy, trên thực tế Việt Nam đã và đang thực hiện các quy định của ILO theo kế hoạch chủ động của mình.
3. Những nội dung chính về lao động trong Hiệp định CPTPP
- Về những nội dung liên quan đến xóa bỏ lao động cưỡng bức, lao động trẻ em, xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động thì về cơ bản, hệ thống pháp luật của Việt Nam đã phù hợp với các tiêu chuẩn của ILO và cam kết của Hiệp định. Việt Nam đã và đang triển khai một số chương trình hành động quốc gia để thực thi các tiêu chuẩn trên trong thực tiễn. Đối với cam kết về đảm bảo điều kiện lao động liên quan tới lương tối thiểu, giờ làm việc và an toàn lao động, hệ thống luật pháp của Việt Nam về cơ bản đã quy định đầy đủ về những nội dung này nên không có yêu cầu về việc sửa đổi, bổ sung.
- Về quyền thành lập tổ chức đại diện của người lao động, theo Hiệp định CPTPP và cũng phù hợp với quy định của ILO, Việt Nam và tất cả các nước tham gia Hiệp định CPTPP phải tôn trọng và bảo đảm quyền của người lao động trong việc thành lập và gia nhập tổ chức của người lao động tại cơ sở doanh nghiệp.
- Hiệp định CPTPP cũng như quy định của ILO đều khẳng định tất cả các tổ chức của người lao động phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật của nước sở tại và theo các tiêu chuẩn của ILO.
- Hiệp định CPTPP cũng có các quy định bảo vệ tổ chức của người lao động để không bị người sử dụng lao động can thiệp và phân biệt đối xử nhằm vô hiệu hóa hoặc làm suy yếu khả năng đại diện, bảo vệ cho quyền và lợi ích của người lao động. Điều này cũng phù hợp với quy định của ILO.
4. Cam kết về liên kết của các tổ chức của người lao động
Theo cam kết trong Hiệp định CPTPP, riêng Việt Nam có được thời gian chuẩn bị là 05 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực (tức là khoảng 07 năm kể từ khi ký Hiệp định) để đến khi đó sẽ cho phép các tổ chức của người lao động ở cấp cơ sở doanh nghiệp có thể gia nhập hoặc cùng nhau thành lập tổ chức của người lao động ở cấp cao hơn như cấp ngành, cấp vùng theo đúng trình tự đăng ký được pháp luật quy định một cách công khai, minh bạch. Tôn chỉ, mục đích, trình tự, thủ tục thành lập và phương thức hoạt động của các tổ chức của người lao động ở mức độ này cũng phải tuân thủ đầy đủ theo các quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với các quy định của ILO. Thời gian chuẩn bị này là để Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức bộ máy quản lý để bảo đảm tốt nhất quyền lợi cho người lao động.
Quyền tự do liên kết được đề cập đến trong 2 Công ước này chỉ bao gồm quyền của người lao động cũng như của người sử dụng lao động được thành lập, gia nhập tổ chức đại diện cho mình nhằm mục đích tương tác trong quan hệ lao động. 2 Công ước này không điều chỉnh các hiệp hội cũng như các hoạt động không thuộc về quan hệ lao động.
5. Công đoàn Việt Nam trước ngưỡng cửa CPTPP
Quyền về lao động là một trong những vấn đề chính trong vòng đàm phán cuối cùng của CPTPP trước khi ký kết. Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới với đặc điểm là nhấn mạnh nhiều đến quyền lao động, cũng như bảo vệ tính bền vững của môi trường, giúp người lao động và doanh nghiệp cùng được hưởng lợi ích kinh tế một cách công bằng. CPTPP yêu cầu tất cả các nước tham gia phải thông qua và duy trì các quyền được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong pháp luật, thể chế và thông lệ, tất cả các quốc gia thành viên của ILO, bao gồm Việt Nam đều phải tôn trọng các quyền này. Đây được coi là những quyền được ghi nhận trên toàn thế giới trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa phê chuẩn ba công ước cơ bản (Công ước số 87, 98 và 105) liên quan đến tự do liên kết, quyền thương lượng tập thể và loại bỏ lao động cưỡng bức. Để đạt được điều này đòi hỏi Việt Nam cần xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý và hệ thống quan hệ lao động, phục vụ nhu cầu của người lao động, doanh nghiệp và xã hội, hướng tới ổn định về chính trị và thịnh vượng chung.
Với hệ thống pháp luật và môi trường đầu tư tốt hơn, người lao động Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội việc làm, lựa chọn nghề nghiệp, điều kiện lao động, thu nhập, đời sống được nâng cao hơn, được bảo vệ và bình đẳng với người lao động các quốc gia khác. Để tận dụng được những cơ hội CPTPP mang lại, lực lượng lao động của Việt Nam cần được đào tạo để có kỹ năng nghề, công nghệ thông tin, đặc biệt khi vào giai đoạn công nghiệp 4.0. Nếu không đáp ứng được yêu cầu, nguy cơ không có việc làm, thất nghiệp của người lao động là rất lớn, luôn có thể đến với cá nhân, nhóm người, thậm chí cả doanh nghiệp.
Tham gia CPTPP là chấp nhận trong tương lai gần Công đoàn Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các tổ chức đại diện người lao động (NLĐ), một việc chưa từng có trong tiền lệ. Từ trước tới nay Công đoàn Việt Nam là tổ chức duy nhất đại diện cho người lao động, thực hiện 3 chức năng của công đoàn là: đại diện, bảo vệ người lao động; tham gia quản lý, giám sát; giáo dục, tuyên truyền người lao động và tham gia thực hiện những nhiệm vụ chính trị của đất nước, ngành, doanh nghiệp. Tham luận tại Quốc hội, ông Ngọ Duy Hiểu, Phó chủ tịch Tổng liên đoàn LĐVN đã phát biểu "Công đoàn Việt Nam sẵn sàng chấp nhận, vượt qua thách thức, coi đây là cơ hội đổi mới mạnh mẽ tổ chức và hoạt động của tổ chức mình".
Vấn đề cạnh tranh và thu hút đoàn viên công đoàn là điều tất yếu sẽ xảy ra với Công đoàn Việt Nam và các tổ chức đại diện người lao động được thành lập ở doanh nghiệp. Công đoàn Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong việc thành lập công đoàn cơ sở và phát triển đoàn viên, nguồn lực đảm bảo cho hoạt động sẽ bị chia sẻ và giảm sút, môi trường hoạt động công đoàn cũng thay đổi lớn do quan hệ lao động diễn biến phức tạp. Công đoàn Việt Nam hiện tại có nhiều ưu thế nhưng cũng có nhiều bất cập về mô hình tổ chức, hoạt động mang tính hành chính, tổ chức phong trào thuần túy, bề nổi, chậm thích ứng với tình hình mới. Khi có tổ chức đại diện người lao động được thành lập ở cơ sở với những tuyên bố khác lạ bước đầu có thể sẽ thu hút người lao động tham gia, thậm chí dời bỏ tổ chức cũ (Công đoàn Việt Nam) để gia nhập tổ chức mới này. Đây là nguy cơ mất đoàn viên, khó phát triển đoàn viên mới của Công đoàn Việt Nam thời gian tới.
Công đoàn cơ sở hiện nay, ngoài việc triển khai nghị quyết, kế hoạch của cấp trên, còn phải tổ chức những hoạt động của địa phương, doanh nghiệp, trong đó khá nhiều việc không nằm trong chức năng nhiệm vụ của công đoàn. Thực tế hiện nay phần lớn công đoàn cơ sở chỉ tập trung vào các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, thăm quan, hiếu hỷ, phong trào bề nổi, các hoạt động chính trị theo chỉ đạo của cấp trên. Trong khi vận hành kinh tế thị trường, quan hệ lao động phức tạp rất cần công đoàn đại diện bảo vệ người lao động trong lĩnh vực luật pháp, giải quyết tranh chấp, thương lượng, hòa giải thì vai trò của công đoàn cơ sở còn nhiều hạn chế. Khi tổ chức đại diện người lao động được thành lập chỉ tập trung vào mục đích, nhiệm vụ chính là đại diện bảo vệ người lao động, tổ chức các hoạt động chăm lo liên quan đến người lao động, không tham gia hoạt động chính trị thì dễ lôi cuốn người lao động, dễ được người lao động ủng hộ. Nếu không đổi mới nội dung phương thức hoạt động công đoàn ở cơ sở thì Công đoàn Việt Nam sẽ không được người lao động tham gia, ủng hộ ngay từ cấp cơ sở. Cần làm sao để hoạt động công đoàn tập trung vào đại diện bảo vệ quyền của người lao động, công đoàn là tổ chức của người lao động, không bị giới sử dụng lao động can thiệp. Thông qua công đoàn, người lao động thể hiện ý chí, nguyện vọng bằng thương lượng tập thể và đối thoại, thúc đẩy phát triển ổn định cho doanh nghiệp và xã hội. Mặt khác công đoàn còn phải đấu tranh vạch trần bản chất các tổ chức đại diện cho người lao động được thành lập không vì mục đích bảo vệ người lao động mà vì động cơ chính trị, chống phá đất nước hoặc do giới chủ thao túng, phá hoại tổ chức công đoàn, ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp và người lao động.
Một bộ phận cán bộ công đoàn hiện nay còn nặng tư tưởng bao cấp, trình độ non yếu, trì trệ, bảo thủ không phù hợp với kinh tế thị trường và sự phát triển khoa học công nghệ. Hạn chế của công tác cán bộ sẽ là những thách thức khi cuộc cạnh tranh đến gần, tự người lao động lựa chọn “thủ lĩnh” của mình. Ngay từ bây giờ rất cần những cán bộ bản lĩnh, trình độ, uy tín tham gia lãnh đạo công đoàn, nhất là ở cơ sở.
Tham gia CPTPP là xu hướng tất yếu để Việt Nam hòa nhập và phát triển kinh tế, xã hội. Công đoàn Việt Nam sẵn sàng chấp nhận những tác động, khó khăn, thách thức với công đoàn vì lợi ích lớn hơn, nhiều hơn của quốc gia, dân tộc.