1. Giới thiệu về Hiệp định mua sắm Chính phủ (GPA)

Hiệp định của WTO về Mua sắm Chính phủ (GPA) là một thỏa thuận đa phương, có nghĩa là không phải tất cả các thành viên WTO đều tham gia nó. Hiệp định mua sắm Chính phủ (GPA) quy định liên quan đến mua hàng hóa, dịch vụ và các công trình xây dựng, thúc đẩy mở cửa thị trường, quản trị tốt, minh bạch và liêm chính. Một thỏa thuận gần đây của GPA liên quan đến việc cập nhật các văn bản của Hiệp định và mở rộng đáng kể các cam kết tiếp cận thị trường.

Hiệp định mua sắm Chính phủ (GPA) bắt nguồn từ Vòng đàm phán Tokyo về Mua sắm Chính phủ trong những năm 70 thế kỷ XX. Hiệp định được đàm phán song song với các Vòng đàm phán thương mại Uruguay trong những năm từ  1980 đến 1990. Các vòng đàm phán lại của Hiệp định mua sắm Chính phủ (GPA) bắt đầu từ năm 1997 và kết thúc vào tháng 12 năm 2011. Kết quả của các cuộc đàm phán đã được chính thức thông qua tháng 3 năm 2012. Hiệp định sửa đổi có hiệu lực vào ngày 06 tháng 04 năm 2014.

 

2. Phạm vi áp dụng của Hiệp định mua sắm Chính phủ 

Cơ sở pháp lý: Điều 1 Hiệp định mua sắm Chính phủ; theo đó Hiệp định Hiệp định mua sắm Chính phủ này áp dụng đối với:

- Bất kỳ luật lệ, quy định, thủ tục và tập quán nào liên quan tới mua sắm của chính phủ đối với sản phẩm của các thực thể thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này. Phạm vi này bao gồm cả dịch vụ kèm theo việc cung cấp sản phẩm nếu giá trị của những dịch vụ kèm theo này không vượt quá bản thân giá trị sản phẩm chứ nhưng không phải bản thân các hợp đồng dịch vụ;

- Bất kỳ hợp đồng mua sắm nào có giá trị 150.000 SDR hoặc hơn. Không có yêu cầu nào về mua sắm được phân chia với mục đích giảm giá trị của hợp đồng liên quan dưới 150.000 SDR. Nếu việc đòi hỏi riêng rẽ đối với việc mua sắm một sản phẩm hoặc các sản phẩm cùng loại dẫn đến việc trúng thầu hơn một hợp đồng hoặc trong hợp đồng trúng thầu theo các phần khác nhau, giá trị của những hợp đồng nảy sinh này trong 12 tháng tiếp theo sau hợp đồng ban đầu sẽ là cơ sở cho việc áp dụng Hiệp định này;

- Việc mua sắm của các thực thể theo sự điều khiển trực tiếp hoặc đáng kể của các bên và thực thể được chỉ định khác đối với các thủ tục và tập quán mua sắm. Trước khi việc rà soát và việc đàm phán tiếp theo được đề cập đến trong quy định cuối cùng, phạm vi của Hiệp định này được quy định cụ thể trong danh sách các thực thể và các thực thể kế thừa nêu trong Phụ lục I, và trong trường hợp có việc phê chuẩn, sửa đổi hoặc bổ sung.

Các Bên sẽ thông báo cho các thực thể của mình, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này và các chính phủ và chính quyền khu vực và địa phương trong phạm vi lãnh thổ của họ, về các mục tiêu, nguyên tắc và quy định của Hiệp định này, cụ thể là các quy định về đối xử quốc gia hoặc không phân biệt đối xử và chú ý vào lợi ích tổng thể của việc tự do hoá mua sắm của chính phủ.

 

3. Phân tích nguyên tắc đối xử quốc gia và không phân biệt đối xử 

Đối với tất cả luật lệ, quy định, thủ tục và tập quán liên quan tới việc mua sắm của chính phủ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, các Bên sẽ dành, ngay lập tức và không điều kiện cho các sản phẩm và nhà cung cấp của các Bên khác cung cấp những sản phẩm có xuất xứ trong phạm vi lãnh thổ hải quan (kể cả khu vực tự do) của các Bên đó, đối xử không kém thuận lợi hơn:

- Dành cho các sản phẩm và nhà cung cấp nội địa; và

- Dành cho các sản phẩm và nhà cung cấp của bất kỳ bên nào khác.

Các quy định trong khoản 1 sẽ không đánh thuế và phí hải quan các loại đối với hoặc có liên quan tới việc nhập khẩu, phương pháp đánh thuế và phí và các quy định và thủ tục nhập khẩu khác.

Các bên sẽ không áp dụng qui tắc xuất xứ đối với các sản phẩm được nhập khẩu theo mục đích mua sắm của chính phủ quy định trong Hiệp định này từ các bên khác mà khác với qui tắc xuất xứ áp dụng trong giao dịch thương mại thông thường và vào thời điểm nhập khẩu sản phẩm cùng loại từ các bên tương tự.

 

4. Mục tiêu, phạm vi và các ngoại lệ được thỏa thuận 

Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Luật sư hãy cho biết mục tiêu, phạm vi và các ngoại lệ được thoản thuận trong nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển của Hiệp định mua sắm Chính phủ quy định như thế nào?

Cảm ơn!

Trả lời: 

Cơ sở pháp lý: Điều 3 Hiệp định mua sắm Chính phủ

a. Mục tiêu

Trong việc thực hiện và quản lý Hiệp định này, theo các quy định đưa ra trong Điều khoản này, các bên sẽ xem xét thích hợp sự phát triển, nhu cầu thương mại và tài chính của các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước kém phát triển nhất nhằm:

- Bảo vệ khả năng cán cân thanh toán và bảo đảm đủ mức dự trữ cho việc thực hiện các chương trình phát triển kinh tế;

- Thúc đẩy việc thành lập hoặc phát triển ngành công nghiệp nội địa bao gồm việc phát triển ngành công nghiệp qui mô nhỏ và thủ công ở vùng nông thôn hoặc lạc hậu; và phát triển kinh tế trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế;

- Hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nếu các cơ sở này hoàn toàn hoặc về cơ bản dựa vào việc mua sắm của chính phủ;

- Khuyến khích sự phát triển kinh tế thông qua các thỏa thuận khu vực hoặc toàn cầu giữa các nước đang phát triển được đưa ra cho các Bên ký kết GATT và không được các bên thỏa thuận.

Theo các quy định của Hiệp định này, các Bên sẽ, trong việc chuẩn bị và áp dụng các luật lệ, quy định và thủ tục ảnh hưởng tới việc mua sắm của chính phủ, tạo thuận lợi cho việc tăng nhập khẩu từ các nước đang phát triển, chú ý đến những vấn đề đặc biệt của các nước kém phát triển nhất và những nước ở trình độ phát triển kinh tế thấp.

b. Phạm vi

Nhằm đảm bảo các nước đang phát triển có thể tham gia vào Hiệp định này theo các Điều khoản phù hợp với sự phát triển, nhu cầu tài chính và thương mại của mình, các mục tiêu nêu ra trong khoản 1 ở trên sẽ được xem xét hợp lý trong quá trình đàm phán về danh sách thực thể của các nước đang phát triển thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định trong Hiệp định này.

Các nước phát triển, trong việc chuẩn bị danh sách thực thể có trong các quy định của Hiệp định này, sẽ nỗ lực đưa vào các thực thể mua sắm các sản phẩm mà các nước đang phát triển có lợi ích từ xuất khẩu.

c. Ngoại lệ được thoả thuận

Các nước đang phát triển có thể đàm phán với các bên khác trong đàm phán Hiệp định này vì cùng có thể chấp nhận các ngoại lệ theo các quy định về đối xử quốc gia cho các thực thể hoặc các sản phẩm nhất định có trong danh sách các thực thể có xét tới các trường hợp cụ thể. Trong các cuộc đàm phán này, việc cân nhắc nêu trong khoản 1 (a)-(c) ở trên sẽ được xem xét thích hợp. Các nước đang phát triển tham gia vào thoả thuận khu vực hoặc toàn cầu được đề cập tại khoản 1 (d) ở trên cũng có thể đàm phán các ngoại lệ đối với danh mục của mình, xét tới các trường hợp cụ thể và tính tới các quy định về mua sắm của chính phủ dành cho các thoả thuận khu vực hoặc toàn cầu có liên quan và đặc biệt tính tới các sản phẩm cụ thể phụ thuộc vào các chương trình phát triển công nghiệp chung.

Sau khi Hiệp định có hiệu lực, các Bên là nước đang phát triển có thể sửa đổi danh sách các thực thể phù hợp với các quy định về việc sửa đổi danh sách quy định trong khoản 5 của Điều IX của Hiệp định này, có xem xét tới sự phát triển, nhu cầu tài chính và thương mại hoặc có thể đề nghị ủy ban dành ngoại lệ đối với các quy định về đối xử quốc gia cho các thực thể nhất định hoặc sản phẩm trong danh sách các thực thể có xem xét tới những trường hợp cụ thể và xem xét hợp lý tới các quy định trong khoản 1 (a)-(c) ở trên. Các Bên là nước đang phát triển cũng có thể đề nghị, sau khi Hiệp định có hiệu lực, ủy ban sẽ dành loại trừ đối với các thực thể nhất định hoặc sản phẩm có trong danh sách do việc tham gia vào các cam kết khu vực hoặc toàn cầu giữa các nước đang phát triển mà có xem xét tới những trường hợp cụ thể và xem xét hợp lý tới các quy định của khoản 1 (d) ở trên. Mỗi đề nghị của các nước đang phát triển đối với ủy ban về việc sửa đổi danh sách sẽ đi kèm với tài liệu tương ứng với đề nghị hoặc thông tin cần thiết cho việc xem xét vấn đề.

Khoản 4 và 5 ở trên được áp dụng với những sửa đổi hình hoạt đối với các nước đang phát triển gia nhập Hiệp định này sau khi có hiệu lực.

Những loại trừ đã thỏa thuận như vậy nêu trong khoản 4, 5 và 6 ở trên sẽ được rà soát phù hợp với các quy định của khoản 13 của Điều này.

 

5. Trợ giúp kỹ thuật dành cho nước đang phát triển và đối xử đặc biệt cho nước kém phát triển

a. Trợ giúp kỹ thuật dành cho các Bên là nước đang phát triển

Theo đề nghị, các Bên là nước phát triển sẽ cung cấp trợ giúp kỹ thuật phù hợp với các Bên là nước đang phát triển trong việc giải quyết các vấn đề về mua sắm của chính phủ.

Trợ giúp này, được cung cấp trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa các Bên là nước đang phát triển, sẽ liên quan tới:

- Giải pháp về các vấn đề kỹ thuật cụ thể liên quan tới việc trúng thầu hợp đồng cụ thể;

- Bất kỳ vấn đề nào khác mà bên đề nghị và bên khác đồng ý giải quyết trong trường hợp có sự trợ giúp.

Đối với trung tâm thông tin: Các bên là nước phát triển sẽ thành lập, riêng rẽ hoặc chung các trung tâm thông tin để trả lời những yêu cầu hợp lý từ các Bên là nước đang phát triển đối với các thông tin liên quan về luật lệ, quy định, thủ tục và tập quán về mua sắm của chính phủ, thông báo việc mua sắm dự kiến đã được công bố, địa chỉ các thực thể quy định trong Hiệp định này, bản chất và số lượng sản phẩm đã mua sắm hoặc sẽ được mua sắm, bao gồm các thông tin sẵn có về việc đấu thầu trong tương lai. ủy ban có thể cũng thành lập một trung tâm thông tin riêng.

b. Đối xử đặc biệt dành cho các nước kém phát triển nhất

Xét tới khoản 6 của Tuyên bố Tokyo, đối xử đặc biệt sẽ được dành cho các Bên là nước kém phát triển nhất và đối với nhà cung cấp ở những nước có các sản phẩm có nguồn gốc ở những nước này, trong trường hợp có có bất kỳ biện pháp chung hay cụ thể nào dành cho các Bên là nước đang phát triển. Các Bên có thể dành lợi ích của Hiệp định này cho những nhà cung cấp ở các nước kém phát triển nhất không phải là các Bên, đối với những sản phẩm có xuất xứ từ những nước này.

Các Bên là nước phát triển sẽ, theo yêu cầu, cung cấp trợ giúp mà họ cho là phù hợp với người bỏ thầu tiềm năng ở các nước kém phát triển nhất trong việc bỏ thầu và lựa chọn các sản phẩm có thể có lợi ích đối với các thực thể của các nước phát triển cũng như tới nhà cung cấp ở các nước kém phát triển nhất và tương tự như vậy trợ giúp việc tuân thủ với các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan tới các sản phẩm phụ thuộc vào việc mua sắm dự kiến.

Đối với rà soát: Hàng năm, ủy ban sẽ rà soát việc triển khai và hiệu quả của Điều này và cứ sau 3 năm triển khai trên cơ sở báo cáo được các Bên đưa ra sẽ tiến hành việc rà soát sâu rộng nhằm đánh giá hiệu quả. Vì là một phần của rà soát 3 năm và nhằm đạt được việc thực hiện tối đa các quy định của Hiệp định này, đặc biệt là ở Điều II, và xét tới sự phát triển, tình hình tài chính và thương mại của các nước đang phát triển có liên quan, ủy ban sẽ kiểm tra liệu các loại trừ đưa ra có phù hợp hay không với các quy định trong khoản 4- 6 của Điều này sẽ được sửa đổi hoặc gia hạn.

Trong khi tiến hành vòng đàm phán tiếp theo phù hợp với các quy định của Điều IX, khoản 6, các Bên là nước đang phát triển sẽ cân nhắc khả năng mở rộng danh sách các thực thể xét tới tình hình kinh tế, tài chính và thương mại.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).