1. Giới thiệu

Chứng cứ trong vụ án hình sự có một ý nghĩa lớn không chỉ về mặt pháp lý để chứng minh hành vi phạm tội, mà nó còn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng khi vận dụng để thu thập, phân tích, chuyển hóa chứng cứ điện tử sang chứng cứ truyền thống để phục vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử các vụ án mà các đối tượng phạm tội đã sử dụng, lạm dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến làm công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội (tội phạm công nghệ cao).

Một trong những nguồn chứng cứ quan trọng trong các vụ án sử dụnga công nghệ cao để phạm tội là những vật chứng thu giữ tại nơi tội phạm xảy ra, mang dấu vết tội phạm như: “cookies”, “URL”, web server logs, Email logs... (đây là những thông tin do máy tính tạo ra); hoặc cũng có thể là những thông tin điện tử do con người tạo ra được lưu giữ trong máy tính hoặc các thiết bị điện tử khác, như các văn bản, bảng biểu, các hình ảnh, thông tin được lưu giữ dưới dạng tín hiệu điện tử.

Hầu hết các đối tượng sử dụng công nghệ cao để phạm tội đều có nhận thức về pháp luật và hiểu biết công nghệ cao, và khi thực hiện hành vi phạm tội đều có những thủ đoạn tinh vi để che giấu thông tin phạm tội, khi phát hiện nguy cơ bại lộ chúng rất nhanh chóng xóa bỏ các dấu vết để chối tội (như xóa các dữ liệu có liên quan; đánh sập các trang Web), vì vậy việc thu thập, phục hồi, chuyển hóa chứng cứ điện tử thành chứng cứ truyền thống để chứng minh hành vi phạm tội của các đối tượng là vô cùng quan trọng, nó quyết định sự thành công hay thất bại của một chuyên án.

2. Chứng cứ điện tử là gì?

Trong tham luận trình bày tại Hội thảo “Phòng chống tội phạm truyền thống và tội phạm phi truyền thống” do Bộ Công an phối hợp với Học viện Cảnh sát nhân dân tổ chức vào tháng 04/2008; Tiến sĩ Trần Văn Hòa, Phó cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống Tội phạm công nghệ cao cho rằng: “Chứng cứ điện tử là những chứng cứ được lưu giữ dưới dạng tín hiệu điện tử trong máy tính hoặc trong các thiết bị có bộ nhớ kỹ thuật số có liên quan đến vụ án hình sự”.

Còn Theo tổ chức Cảnh sát hình sự Quốc tế (Interpol), thì chứng cứ điện tử là thông tin và dữ liệu có giá trị điều tra được lưu trữ hoặc truyền đi bởi một máy tính, mạng máy tính hoặc thiết bị điện tử kỹ thuật số khác. Việc xác lập, thu giữ cũng như phục hồi chứng cứ điện tử cần phải được tiến hành một cách khẩn trương nhưng thận trọng; yêu cầu sự tỉ mỉ và chính xác cao. Đặc biệt khi mà chúng ta chưa có quy định về chứng cứ điện tử trong Bộ luật Tố tụng hình sự; cũng như chưa có những tổng kết khoa học về chứng cứ điện tử, phương pháp, nguyên tắc thu thập, chuyển hóa chứng minh trong các vụ án này. Bộ luật Hình sự tuy đã có quy định 6 tội liên quan đến tội phạm sử dụng công nghệ cao nhưng lại chưa có những hướng dẫn cụ thể về đường lối xử lý những tội phạm này, nhiều khái niệm được đưa ra còn tương đối mơ hồ, định lượng không rõ ràng.

3. Những vấn đề phải chứng minh về giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử trước tòa

Để dữ liệu điện tử thu được có giá trị chứng cứ theo Bộ luật tố tụng hình sự, quá trình điều tra, thu dữ liệu phải chứng minh được các yếu tố sau:

- Các biện pháp điều tra, kể cả điều tra đặc biệt: khi thu giữ thiết bị điện tử lưu trữ dữ liệu, chặn thu, sao chép, phục hồi, giải mã, phân tích, tìm kiếm không làm thay đổi dữ liệu;

- Cơ quan giám định, chuyên gia sao chép, phục hồi, tìm kiếm chứng cứ có đủ chứng chỉ giám định số, thực hiện đúng quy định của pháp luật, bảo đảm đúng quy trình giám định, bảo vệ tính toàn vẹn của dữ liệu, không làm thay đổi chứng cứ;

- Sử dụng thiết bị, phần mềm được pháp luật công nhận;

- Chứng minh được tính khách quan, tính nguyên trạng và tính kiểm chứng được của dữ liệu làm chứng cứ: Tòa án có thể yêu cầu cơ quan giám định khác thực hiện lại việc phục hồi, phân tích, tìm kiếm dữ liệu điện tử từ vật chứng có chứng kiến của Luật sư, Kiểm sát viên và Thẩm phán, lặp lại quá trình phục hồi, tìm kiếm theo đường dẫn và có kết quả tương tự.

4. Phục hồi dữ liệu điện tử

Hầu hết các đối tượng sử dụng công nghệ cao để phạm tội đều có sự am hiểu về công nghệ và luôn ý thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật, vì vậy chúng rất chú ý đến việc tiêu hủy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của chúng, vì vậy khi tiến hành điều tra các vụ án có sử dụng công nghệ cao để phạm tội, vấn đề phục hồi các chứng cứ điện tử là một hoạt động quan trọng và cần thiết.

Việc phục hồi chứng cứ điện tử trên máy tính và các thiết bị điện tử số chính là hoạt động khôi phục lại trạng thái làm việc của máy tính, thiết bị điện tử số khi đối tượng đang sử dụng thì bị thu giữ; là quá trình tìm kiếm các dữ liệu đã được lưu giữ trong quá trình sử dụng trên máy tính, bao gồm cả dữ liệu đã bị xóa khỏi máy tính… đó còn là quá trình khôi phục, phân tích, tìm kiếm, thu giữa những dữ liệu có liên quan đến vấn đề chứng minh tội phạm.

Để phục hồi các chứng cứ điện tử, đầu tiên cần phải thu giữ đầy đủ vật chứng là công cụ, phương tiện để phạm tội; phải bảo quản tốt những vật chứng thu được để phục vụ cho quá trình phục hồi. Công tác phục hồi chứng cứ điện tử trong các vụ án sử dụng công nghệ cao để phạm tội là vô cùng quan trọng, bởi những người thực hiện loại tội phạm này thường sử dụng chính công nghệ cao để xóa bỏ dấu vết tội phạm, để che giấu tội phạm. Để công tác này đạt được kết quả thì cần phải có những chuyên gia về công nghệ thông tin, viễn thông tham gia vào quá trình phục hồi. Và để những chứng cứ này có được giá trị chứng minh trong vụ án hình sự mà đối tượng phạm tội sử dụng công nghệ cao để phạm tội thì cần phải có những quy định chặt chẽ của pháp luật về quy trình thu giữ và phục hồi đối với loại chứng cứ này.

5. Thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử

Việc thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử cần phải thực hiện chặt chẽ và đúng quy định của pháp luật, tại Điều 107 Bộ luật TTHS quy định:

- Phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi thu giữ. Việc niêm phong, mở niêm phong được tiến hành theo quy định của pháp luật.

Trường hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện điện tử và bảo quản như đối với vật chứng, đồng thời yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã sao lưu và cơ quan, tổ chức, cá nhân này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

- Khi thu thập, chặn thu, sao lưu dữ liệu điện tử từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên đường truyền, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành phải lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.

- Khi nhận được quyết định trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử.

- Việc phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử chỉ được thực hiện trên bản sao; kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải chuyển sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được.

- Phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được bảo quản như vật chứng theo quy định của Bộ luật này. Khi xuất trình chứng cứ là dữ liệu điện tử phải kèm theo phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc bản sao dữ liệu điện tử.

Những quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác đấu tranh đối với loại tội phạm liên quan đến phương tiện điện tử và dữ liệu điện tử. Tuy nhiên, qua công tác thực tiễn việc thu thập và thu giữ phương tiện điện tử có những một khó khăn như:
- Trình độ hiểu biết về phương tiện điện tử và dữ liệu điện tử của người tiến hành tố tụng có mặt còn hạn chế nên việc thu thập, thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử chưa được thống nhất về phương tiện và cách thức tiến hành. Điều này ảnh hưởng đến các thuộc tính của nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử.

- Theo quy định tại Điều 206 BLTTHS 2015 thì dữ liệu điện tử không thuộc trường hợp bắt buộc phải giám định, do đó, có tiến hành giám định hay không là phụ thuộc vào nhận định của cơ quan tiến hành tố tụng. Để xem xét dữ liệu điện tử có giá trị làm chứng cứ hay không, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ phải xem xét rất nhiều các yếu tố khác nhau như: Cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.

- Khoản 4 Điều 107 BLTTHS 2015 quy định: …“kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải chuyển sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được”. Các cơ quan tố tụng đang gặp nhiều khó khăn khi chuyển hóa những đoạn video clip thành chứng cứ dưới dạng có thể đọc được. Đối với dữ liệu điện tử được thu từ các thiết bị, phương tiện điện tử có thể ghi hình và lưu dữ liệu điện tử dưới dạng file video, hiện nay thường sử dụng phương pháp cho người tham gia tố tụng xem trực tiếp để xác định người, vật và các hoạt động diễn ra trong đoạn video thu được, sau đó tiến hành lập biên bản ghi nhận. Biên bản cho người tham gia tố tụng trực tiếp xem hình ảnh, video là hoạt động gì trong các hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS. Trường hợp người xem có sự xác nhận khác, ảnh hưởng đến tính xác thực của hình ảnh thì sẽ ảnh hưởng lớn đến nhận định, đánh giá của người tiến hành tố tụng.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)