1. Số ngày nghỉ phép năm của người lao động

Số ngày nghỉ hàng năm là một quyền lợi cơ bản mà người lao động thường được hưởng trong một năm làm việc cho một doanh nghiệp, tổ chức hoặc công ty nào đó. Mục đích của ngày nghỉ hàng năm là để giúp người lao động có thời gian nghỉ ngơi, tái sử dụng năng lượng, và duyệt qua căng thẳng của công việc hàng ngày. Điều này có lợi cho sức khỏe tinh thần và thể chất của người lao động, giúp họ duy trì hiệu suất làm việc tốt hơn trong thời gian làm việc. Ngoài ra, quyền nghỉ phép cũng giúp đảm bảo rằng người lao động có thời gian để dành cho gia đình, bạn bè và các hoạt động cá nhân khác. Số ngày nghỉ phép năm có thể khác nhau tùy theo quy định của quốc gia, khu vực, hoặc tổ chức lao động. Thông thường, một người lao động phải làm việc một khoảng thời gian nhất định trước khi có quyền được nghỉ phép, và số ngày nghỉ hàng năm có thể tăng lên sau một thời gian làm việc dài hơn. Quyền lợi này là một phần quan trọng của hợp đồng lao động và nên được bảo vệ bởi luật pháp để đảm bảo rằng người lao động được đối xử công bằng.

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 113 Bộ luật Lao động năm 2019 thì người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động có thời gian nghỉ hằng năm hay trên thực tế thường gọi là ngày phép năm được hưởng nguyên lương theo quy định trong hợp đồng lao động như sau:

- Người làm công việc trong điều kiện bình thường được tạo điều kiện nghỉ 12 ngày làm việc;

- Người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được quy định nghỉ 14 ngày làm việc;

- Người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được nghỉ 16 ngày làm việc, nhiều hơn hai loại trên do tính chất công việc của những đối tượng này nguy hiểm và vất vả hơn rất nhiều.

Như vậy, tùy thuộc vào các yếu tố như điều kiện, tính chất công việc và môi trường làm việc thì thời gian nghỉ hằng năm của người lao động đã làm việc đủ 12 tháng cho người sử dụng lao động sẽ được tính theo các cách khác nhau, có các khoảng như 12, 14 hoặc 16 ngày tương ứng với các điều kiện làm việc. Bên cạnh đó, người lao động cứ làm đủ 05 năm làm việc cho người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động sẽ được tăng thêm tương ứng là 01 ngày. Ví dụ chị H làm việc cho công ty X trong điều kiện làm việc bình thường tức là mỗi năm chị sẽ được nghỉ phép là 12 ngày. Vì cứ đủ 05 năm thì được tăng thêm 01 ngày nên từ năm thứ 6, chị sẽ được nghỉ 13 ngày. Cứ tiếp tục như vậy thì từ năm thứ 11 chị sẽ được nghỉ phép năm 14 ngày, từ năm thứ 16 chị sẽ được nghỉ phép năm 15 ngày...

Ngoài ra, đối với trường hợp mà người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ phép hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc tức là sẽ chia tỷ lệ số ngày phép và tính theo số tháng làm việc. Cụ thể theo quy định tại khoản 1 Điều 66 Nghị định 45/2020/NĐ-CP thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng được tính bằng: số ngày nghỉ hằng năm cộng với số ngày được nghỉ tăng thêm theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm. Ví dụ: Anh A làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, anh đã làm việc được 10 tháng. Như vậy, số ngày nghỉ phép năm của anh A được tính như sau: (14 ngày : 12 tháng) x 10 tháng = 11,67 ngày. Có nghĩa là anh A được nghỉ 11 ngày phép năm. Theo đó thì tiền lương làm căn cứ để thanh toán cho người lao động những ngày nghỉ hằng năm chính là tiền lượng theo hợp đồng lao động tại thời điểm người lao động nghỉ hằng năm.

2. Chế độ người lao động chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày phép năm 

Căn cứ theo khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao đông năm 2019 trường hợp người lao động do thôi việc hoặc bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì sẽ được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày mà người lao động chưa nghỉ. Có nghĩa là chỉ có 2 trường hợp người lao động được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày nghỉ phép năm: thứ nhất là trường hợp hợp đồng lao động hết hạn, các bên không giao kết hợp đồng lao động mới; thứ hai là người lao động bị mất việc làm. Tiền lương làm căn cứ để thanh toán cho người lao động những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc những ngày được nghỉ hằng năm chưa nghỉ hết là tiền lương theo hợp đồng lao động của tháng trước liền kề tháng người lao động thôi việc hoặc bị mất việc làm.

Từ năm 2021 trở đi, người lao động cần chú ý rằng nếu họ không sử dụng hết số ngày nghỉ phép hàng năm và tiếp tục làm việc, họ sẽ không nhận được tiền lương cho các ngày nghỉ chưa sử dụng. Thay vào đó, họ chỉ được hưởng chế độ phép chưa sử dụng theo quy định cho hai trường hợp đã nêu bên trên. Vì vậy, người lao động nên sử dụng tối đa số ngày phép được hưởng trước khi năm kết thúc. Thay vì chờ đến cuối năm để nghỉ hết phép, hai bên có thể thỏa thuận để chuyển số ngày phép chưa sử dụng từ năm trước sang năm sau. Theo Điều 113 khoản 4 của Bộ Luật Lao động năm 2019, người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để chia số ngày phép hàng năm thành nhiều kỳ nghỉ hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần. Tức là, người lao động không cần phải nghỉ hết phép vào cuối năm nếu họ không có nhu cầu, mà có thể thỏa thuận với công ty để sử dụng số phép dư vào năm sau.

3. Vi phạm pháp luật về nghỉ hàng năm

Theo quy định, người sử dụng lao động phải đảm bảo việc quy định lịch nghỉ hàng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và cung cấp thông tin trước cho họ. Dựa trên lịch nghỉ này, người lao động tự chuẩn bị và sắp xếp thời gian để nghỉ phép theo quy định của công ty. Nếu công ty không xác định lịch nghỉ hàng năm cụ thể, người lao động có thể tự quyết định lịch nghỉ cá nhân và tuân theo quy trình xin nghỉ phép theo quy định của công ty. Trong trường hợp công ty từ chối yêu cầu nghỉ phép mà người lao động cho rằng mình có lý do chính đáng, người lao động nên liên hệ với tổ chức công đoàn của đơn vị để được hỗ trợ trong việc giải quyết và bảo vệ quyền lợi của mình. Nếu sau khi tham gia tổ chức công đoàn và không nhận được hỗ trợ, người lao động có thể lập đơn khiếu nại và gửi đến lãnh đạo công ty. Trong trường hợp khiếu nại không được giải quyết một cách hợp lý, người lao động cũng có quyền lập đơn và gửi đến Chánh Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, tức nơi mà trụ sở chính của công ty đặt tại đó. Điều này sẽ giúp việc xem xét và giải quyết vấn đề của người lao động một cách công bằng và trung thực. 

Căn cứ theo khoản 2 Điều 18 Nghị định 12/2022/NĐ-CP trong trường hợp người sử dụng lao động vi phạm quy định pháp luật về nghỉ hằng tuần, nghỉ hàng năm, hoặc nghỉ vào các ngày lễ, tết, họ sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định pháp luật. Đối với cá nhân, mức phạt tiền sẽ nằm trong khoảng từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Trong trường hợp là công ty, mức phạt tiền sẽ là gấp đôi, tức từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng như quy định tại khoản 1 của Điều 6 trong Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Quy định thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ phép năm? Nếu có bất cứ vướng mắc nào về vấn đề này hay gặp phải bất kì vấn đề pháp lý nào khác cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu trực tiếp tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp nhanh chóng. Rất mong nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Trân trọng!