1. Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân.
Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính đã quy định các hình thức phiên tòa được tổ chức theo thủ tục tố tụng của từng loại vụ án. Vụ án hình sự được tổ chức phiên tòa theo thủ tục tố tụng hình sự, vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự, vụ án hành chính theo thủ tục tố tụng hành chính. Các phiên tòa được diễn ra công khai; trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín. Hình thức phiên tòa có thể là phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, phiên tòa giám đốc thẩm hoặc phiên tòa tái thẩm tùy theo bản chất vụ án; mỗi cấp phiên tòa có những thủ tục khác nhau và phiên tòa của các loại vụ án khác nhau cũng khác nhau. Phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm có thể được thực hiện theo thủ tục rút gọn. Kết quả xét xử là Bản án hoặc Quyết định nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được công bố để giải quyết vụ án.
Chủ thể xét xử có tên gọi là người tiến hành tố tụng, họ có thể là Hội đồng hoặc một Thẩm phán (nếu theo thủ tục rút gọn). Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm 03 hoặc 05 người, gồm 01 Thẩm phán và 02 Hội thẩm hoặc 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm tùy theo vụ án; trong những trường hợp nhất định như vụ án phức tạp hoặc có đối tượng là người chưa thành niên... thì Hội thẩm phải là người có chuyên môn phù hợp theo yêu cầu của thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm 03 Thẩm phán. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm có thể gồm 03 Thẩm phán hoặc toàn thể ủy ban Thẩm phán của Tòa án nhân dân cấp cao; hoặc 05 Thẩm phán hoặc toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tùy theo quy định (Điều 254, 382, 403, 463 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 63 - 66 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 154,222,249,266,286 Luật tố tụng hành chính năm 2015).
Chủ thể bị xét xử có tên gọi là người tham gia tố tụng; trong vụ án hình sự là bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; trong vụ án dân sự là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; trong vụ án hành chính là người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Mỗi tư cách chủ thể đều có quyền và nghĩa vụ tố tụng riêng khi tham gia tố tụng.
Chủ thể tham gia xét xử có 02 loại là người tiến hành tố tụng (kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát tư pháp) và là người tham gia tố tụng khác (các chủ thể có tư cách là người làm chứng, người chứng kiến, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp...) trong các vụ án. Họ có quyền, nghĩa vụ tố tụng riêng khi tham gia tố tụng.
Về đối tượng xét xử, Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử 316 tội danh trong vụ án hình sự (từ Điều 108 đến Điều 425 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, không tính tội ghép); 14 loại tranh chấp dân sự; 08 loại tranh chấp về hôn nhân và gia đình; 05 loại tranh chấp về kinh doanh, thương mại; 05 loại tranh chấp về lao động và không được từ chối giải quyết vụ việc vì lý do chưa có điều luật để áp dụng (Điều 4,26, 28, 30, 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015); 04 loại khiếu kiện hành chính (Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015). Trong quá trình xét xử các loại vụ án, Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015), vấn đề' dân sự trong vụ án hành chính (Điều 7 Luật tố tụng hành chính năm 2015), vấn đề xử lý quyết định cá biệt trong vụ án dân sự (Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015), vấn đề vi phạm pháp luật tố tụng và bảo vệ trật tự hiến pháp trong mọi vụ án (Điều 221,247,266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 265,326 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 111,175,191 Luật tố tụng hành chính năm 2015).
2. Hoạt động giải quyết vấn đề về bản chất pháp lý của vụ án
Xuất phát từ vai trò quan trọng của sự thật vụ án nền các luật tố tụng đều quy định nhiệm vụ làm sáng tỏ sự thật vụ án trong các nguyên tắc tố tụng. Cụ thể:
- Trong vụ án hình sự, Điều 13, 15, 298, 326 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”; “trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội”; “khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục đo Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”; “Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố. Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố chỉ Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó”; “trường hợp phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm thì Hội đồng xét xử quyết định việc khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 18 và Điều 153 của Bộ luật này”..
- Trong vụ án dân sự, Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự’ và “Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”..
- Trong vụ án hành chính, Điều 9 Luật tố tụng hành chính năm 2015 đã quy định: “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cả nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh như đương sự' và “Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ và tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án hoặc đương sự theo quy định của Luật này"...
Về bảo đảm các nội dung khác của công lý như quyền con người, sự công bằng, tôn trọng thỏa thuận, các giá trị... trong việc giải quyết các vụ án, các luật nội dung và luật tố tụng đã quy định tương đối đầy đủ, chẳng hạn như:
- Khi giải quyết vụ án hình sự, chủ thể xét xử phải “bảo đảm công bằng” (Điều 25 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015); phải đảm bảo “mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật”; có “nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ...” nhưng “khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội,... ăn năn hối cải...” (Điều 3 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017). Khi quyết định hình phạt, “không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục học ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mỏi; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” (Điều 31 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017)..
- Khi giải quyết các cáo buộc, tranh chấp trong vụ án dân sự, chủ thể xét xử phải đảm bảo “mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng” (Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015); phải “bảo đảm công bằng” (Điều 15 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015); tôn trọng sự thỏa thuận “cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” (Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015); phải “giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết, tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam” (Điều 7 Bộ luật dân sự năm 2015)...;
- Khi giải quyết các cáo buộc đối với hành vi, quyết định hành chính... trong vụ án hành chính, chủ thể xét xử phải “bảo đảm công bằng” (Điều 16 Luật tố tụng hành chính năm 2015); “có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án” (Điều 20 Luật tố tụng hành chính năm 2015)...
3. Hoạt động thực thi thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
Các luật tố tụng đều quy định bắt buộc chủ thể xét xử phải tuân thủ chặt chẽ các thủ tục tố tụng. Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Không được... xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục đo Bộ luật này quy định”; “phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết”; phải đảm bảo mọi người, mọi pháp nhân “đều bình đẳng trước pháp luật”, “quyền bất khả xâm phạm về thân thể} được “bảo hộ về tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản..”, “bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân”; đảm bảo quyền im lặng của người bị buộc tội trước các cơ quan tiến hành tố tụng “người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”, “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”... (Điều 7-12, Điều 15, điểm h khoản 2 Điều 61 Bộ luật tố tụng hình sự năm 215). Điều 3 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 4 Luật tố tụng hành chính năm 2015 cũng quy định mọi hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân theo quy định của luật tố tụng: “Mọi hoạt động tố tụng dân sự của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng người tham gia tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ luật này”.
4. Hoạt động định chuẩn pháp lý để giải quyết vụ án
Với đặc thù là truyền thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, việc lựa chọn, tìm kiếm các quy phạm pháp luật, quy tắc chuẩn mực được tập trung chủ yếu ở hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo những nguyên tắc nhất định, cụ thể là nguyên tắc trật tự hiệu lực theo chiều dọc và nguyên tắc trật tự hiệu lực theo chiều ngang.
Nguyên tắc trật tự hiệu lực theo chiều dọc đòi hỏi chủ thể xét xử khi áp dụng văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết vụ án phải đảm bảo trật tự hiệu lực pháp luật từ trên xuống dưới, theo thứ tự sau đây:
Nguyên tắc trật tự hiệu lực theo chiều ngang đòi hỏi:
- Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật phải từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực pháp luật (hiệu lực về thời gian, về không gian và đối tượng áp dụng). Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó;
- Trong trường hợp có các văn bản quy phạm pháp luật quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn;
- Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau;
- Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới;
- Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thi áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp (Điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015);
- Trong quan hệ dân sự, Bộ luật dân sự là luật điều chỉnh chung. Các luật khác có liên quan điều chỉnh những quan hệ dân sự trong lĩnh vực cụ thể được áp dụng nhưng không được trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Bộ luật dân sự. Nếu trái thì Bộ luật dân sự được áp dụng (Điều 4 Bộ luật dân sự năm 2015);
- Trong trường hợp chuyển tiếp, những trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quy định vẫn áp dụng những văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì áp dụng theo quy định đó. Chẳng hạn: Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015)... Ngoài việc tuân thủ nguyên tắc trật tự hiệu lực nói trên, chủ thể xét xử còn phải tuân thủ nguyên tắc áp dụng tập quán và án lệ trong những trường hợp nhất định.
Theo Điều 5 Bộ luật dân sự năm 2015, trong lĩnh vực dân sự, các tập quán không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự sẽ được Tòa án xem xét áp dụng để giải quyết các vụ việc dân sự khi các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định. Một số tập quán phổ biến có tính truyền thống lâu đời thường được áp dụng như: Tập quán trong quan hệ hôn nhân như chế độ mẫu hệ, tài sản hồi môn...; tập quán hưởng lợi ích từ vật nuôi, cây trồng trong trường hợp vật nuôi, cây trồng không xác định được thuộc quyền sở hữu của ai và do một hoặc nhiều người phát hiện; quyền của một người phát hiện trước một vật (tài sản); quyền nuôi con khi vợ chồng ly hôn; nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên; phong tục “cá vào ao ai người đó được”; tập quán hưởng hoa lợi từ cây trồng giữa các chủ thể có địa giới liền kề; tập quán dẫn thoát nước trong canh tác nông nghiệp; tập quán làm dấu trong săn bắn, hái lượm; tập quán phạt vạ người có lỗi trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa trong cộng đồng dân cư.. .
Đối với án lệ, theo Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, án lệ được hiểu là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về' một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tuyển chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố. Những bản án, quyết định được chọn là án lệ khi nó đáp ứng những tiêu chí như: Có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể hoặc thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể; có tính chuẩn mực; có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử. Đặc thù án lệ ở Việt Nam được áp dụng cho cả trường hợp có văn bản quy phạm pháp luật và không có văn bản quy phạm pháp luật.
Cũng giống như tập quán, án lệ chỉ được xem là thứ yếu, sau văn bản quy phạm pháp luật. Án lệ bổ trợ cho các văn bản quy phạm pháp luật, bổ sung cho sự thiếu hụt của các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật. Khi cơ quan có thẩm quyền đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề được án lệ giải quyết trước đó thì án lệ sẽ không được áp dụng nữa mà chủ thể xét xử phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết.
Tóm lại về vấn đề định chuẩn pháp lý để giải quyết vụ án, theo quy định của pháp luật, chủ thể xét xử phải thực hiện như sau:
- Trong trường hợp vụ án có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, chủ thể xét xử phải tuân thủ trật tự hiệu lực cả chiều dọc và chiều ngang khi lựa chọn văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng pháp luật giải quyết vụ án; và phải áp dụng án lệ để đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật khi xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết, nếu phát hiện có văn bản quy phạm pháp luật vi phạm trật tự hiến pháp, tức trái với Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì chủ thể xét xử phải thực hiện kiến nghị theo thủ tục do luật tố tụng quy định trước khi áp dụng văn bản có hiệu lực cao hơn để giải quyết vụ án (Điều 221 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 265 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 111 Luật tố tụng hành chính năm 2015);
- Trong trường hợp vụ án không có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, chủ thể xét xử sẽ áp dụng tập quán, áp dụng pháp luật tương tự và án lệ theo những nguyên tắc nhất định. Theo Điều 6 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng. Một số trường hợp hiện nay đang được áp dụng pháp luật tương tự giải quyết, đó là: Hợp đồng cung cấp thông tin; hợp đồng môi giới dân sự; hợp đồng đổi công; vấn đề sử dụng đất hương hỏa; vấn đề giải quyết tranh chấp con sinh theo phương pháp khoa học không vì mục đích nhân đạo; xác định thừa kế thế vị trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học; xác định thừa kế thế vị theo đời chút, chít.. .
5. Hoạt động thể hiện phán quyết giải quyết vụ án
Các luật tố tụng đã quy định cụ thể về các nội dung cần thiết phải được thể hiện trong các bản án, quyết định như Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 194 Luật tố tụng hành chính năm 2015. Cùng với đó là các Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 về biểu mẫu trong tố tụng dân sự, Nghị quyết số 02/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 về biểu mẫu trong tố tụng hành chính, Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19/9/2017 về biểu mẫu trong tố tụng hình sự và Công văn số 155/TANDTC-PC ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân tối cao để quy định thống nhất về' hình thức thể hiện tính trang trọng của bản án, quyết định cho tương xứng là một phán quyết bảo vệ công lý.
Luật Minh Khuê - Biên tập và Sưu tầm