1. Khái quát chung

Hợp đồng là giao dịch kinh doanh hàng ngày của các chủ thể kinh doanh. Vì vậy khi nghiên cứu về hệ thống pháp luật kinh tế của Hoa Kỳ không thể không nghiên cứu về hợp đồng. Pháp luật hợp đồng của Hoa Kỳ chủ yếu được điều chỉnh bởi nguồn án lệ độ sộ từ cấp bang đến cấp Liên bang. Ngày nay, đối với các giao dịch mua bán hàng hóa cho thuê hàng hóa, giao dịch bảo đảm và các giao dịch liên quan khác được điều chỉnh bởi Luật thương mại thống nhất (Uniform Commercial Code - UCC). 
Pháp luật của Hoa Kỳ về hợp đồng và các chế tài của hợp đồng?

2. Bản chất quan hệ hợp đồng

Hợp đồng được định nghĩa là “là một cam kết hoặc một tập hợp những cam kết mà nếu vi phạm sẽ bị áp dụng chế tài hoặc pháp luật công nhận việc thực hiện là một nghĩa vụ”
nghĩa này có thể thấy pháp luật Hoa Kỳ cho rằng hợp đồng là một cam kết có hiệu lực pháp lý. Pháp luật Hoa Kỳ đòi hỏi một hợp đồng có hiệu lực phải có đầy đủ năm yếu tố sau đây: (1) Phải là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều bên; (2) Phải là sự thỏa thuận được xác lập bởi các bên có đầy đủ năng lực giao kết hợp đồng;
(3) Phải có mục đích và nội dung hợp pháp, có nghĩa là hợp đồng không được trái pháp luật hoặc trật tự công cộng; (4) Phải tuân thủ các điều kiện về hình thức nhất định; (5) Phải là thỏa thuận có tính chất đền bù (consideration).
Ngoài tính pháp lý thì sự đền bù phải có tính trao đổi. Tính trao đổi được hiểu là giá trị mà người nhận cam kết trả cho người cam kết chính là giá trị mà người cam kết yêu cầu để thực hiện cam kết của mình. Pháp luật không yêu cầu sự đến bù phải được thực hiện bởi người nhận cam kết cũng như người thụ hưởng sự đền bù phải là người cam kết. Điều này phù hợp với các quan hệ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba. Trong hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, người có nghĩa vụ thực hiện một cam kết vì lợi ích của người thứ ba mặc dù người thứ ba không phải là người trao đổi một giá trị với người có nghĩa vụ mà người trao đổi một giá trị với người có nghĩa vụ là người có quyền.
Sự đền bù là một yếu tố bắt buộc cho sự tồn tại của một hợp đồng, tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định mặc dù một cam kết được đưa ra không có sự đền bù tương ứng vẫn có thể được Tòa án công nhận hiệu lực bằng việc áp dụng học thuyết cam kết “không thể từ bỏ” (promissory estoppel). Học thuyết cam kết không thể từ bỏ được xây dựng và phát triển nhằm bảo vệ một bên vì tin tưởng một cách hợp lý vào cam kết của bên khác mà đã chịu những tổn thất nhất định. Học thuyết này bảo đảm tính công bằng và hợp lý trong giao dịch giữa các bên. Để được áp dụng học thuyết cam kết không thể từ bỏ, các yếu tố sau đây phải được chứng minh đầy đủ: (1) Phải có một cam kết đầy đủ; (2) Người cam kết mong muốn rằng người nhận cam kết sẽ tin tưởng vào cam kết; (3) Người nhận cam kết tin tưởng một cách hợp lý vào cam kết bằng cách hành động hoặc không hành động; (4) Sự tin tưởng của người nhận cam kết là cụ thể và dẫn đến sự thiệt hại vật chất cho người nhận cam kết; và (5) Việc công nhận hiệu lực của cam kết là cần thiết để ngăn ngừa bất công. Trong vụ Alaska Bussell Electric Co v. Vern Hickel Cosntruction Co., 688 P. 2d 576 (1984): “Không lực Hoa Kỳ (U.S. Air Force) mở thầu cho dự án xây dựng một tòa nhà mới ở Anchorage, bang Alaska, tổng thầu, Vern Hickel liên hệ với 8 nhà thầu phụ khác nhau để tìm nhà thầu có giá thấp nhất cho gói thầu điện. Alaska Bussell Electric Company, một nhà thầu phụ về điện chào giá 477.498 USD cho gói thầu điện. Hickel tin tưởng một cách hợp lý vào giá chào thầu này nên đã nộp hồ sơ dự thầu cho Không lực Hoa Kỳ và thắng thầu. Sau đó, Alaska Bussell từ chối thực hiện gói thầu điện cho Hickel với giá 477.498 USD. Vì vậy, Hickel buộc phải thuê nhà thầu khác với giá cao hơn. Trong trường hợp này áp dụng học thuyết cam kết không thể từ bỏ, Hickel có quyền được bồi hoàn khoản chênh lệch giữa giá thầu phải trả cho nhà thầu phụ mới với giá mà Alaska Bussell đã chào thầu” 

3. Xác lập hợp đồng

Một hợp đồng được xác lập bằng cách một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng và một bên chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.

3.1 Đề nghị giao kết hợp đồng

Đề nghị giao kết hợp đồng là “là một thông báo dành cho người được đề nghị quyền năng xác lập một hợp đồng bằng việc đưa ra một chấp nhận”150. Theo pháp luật của Hoa Kỳ, một đề nghị giao kết hợp đồng phải có đầy đủ 03 yếu tố sau: (1) Phải thể hiện ý chí muốn bị ràng buộc bởi một quan hệ hợp đồng; (2) Phải có tính đầy đủ; (3) Phải được thông tin đến người được đề nghị.
Yếu tố thứ nhất được hiểu là người đưa ra đề nghị thể hiện được ý chí muốn bị ràng buộc bởi quan hệ hợp đồng được đề nghị. Ý chí này được đánh giá một cách khách quan, nghĩa là một người bình thường cũng hiểu được rằng người đưa ra đề nghị muốn bị ràng buộc trong một quan hệ hợp đồng nếu người được đề nghị chấp nhận. Do vậy, một người đưa ra đề nghị trong trái thái tức giận, tinh thần bị kích động hoặc trong lúc vui đùa không được coi là “có ý chí muốn bị ràng buộc bởi một quan hệ hợp đồng”.
Yếu tố thứ hai được hiểu là để trở thành một hợp đồng có hiệu lực pháp lý, nội dung của nó phải đầy đủ, có nghĩa là căn cứ vào nội dung của hợp đồng, Tòa án biết được quyền và nghĩa vụ của các bên, để từ đó có thể áp dụng biện pháp chế tài. Không có công thức chung cho nội dung của mọi bản hợp đồng. Ngày nay, các Tòa án Hoa Kỳ có xu hướng “xác định liệu nội dung của hợp đồng có đầy đủ để cho phép Tòa án đưa ra biện pháp chế tài mà nguyên đơn đề nghị; nếu nguyên đơn kiện đòi bồi thường thiệt hại, Tòa án sẽ phải xác định xem liệu hợp đồng có bị vi phạm và thiệt hại gì xảy ra; nếu nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc bên vi phạm thực hiện hợp đồng thì tính đầy đủ của nội dung của hợp đồng được đòi hỏi cao hơn để Tòa án có thể buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ cụ thể và Tòa án cần một bức tranh rõ nét về những nghĩa vụ mà bị đơn đã đồng ý thực hiện”151. UCC đã đơn giản hóa về tính đầy đủ của nội dung hợp đồng. Điều 2-204 (3) quy định: “Mặc dù một hoặc nhiều điều khoản bị bỏ trống, hợp đồng mua bán không mất hiệu lực vì tính đầy đủ nếu các bên có ý định xác lập hợp đồng và có cơ sở đầy đủ hợp lý để có được biện pháp chế tài phù hợp”. Như vậy, theo UCC, một hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ cần có nội dung về các bên trong hợp đồng, đối tượng của hợp đồng (bao gồm khối lượng) được coi là đầy đủ152. Các nội dung khác có thể được tìm kiếm từ thói quen thương mại, tập quán thương mại và quy phạm pháp luật. Điều 2-305(1) (c) của UCC quy định: “Các bên có thể xác lập một hợp đồng mua bán mà không cần phải thỏa thuận về giá cả. Trong trường hợp này, giá cả là giá cả hợp lý tại thời điểm giao hàng nếu: (a) Giá cả không được xác định; hoặc (b) Giá cả do các bên thỏa thuận và họ đã không thỏa thuận; hoặc; (c) Giá cả được xác lập trên cơ sở các điều kiện hoặc tiêu chuẩn được ban hành hoặc ghi chép bởi bên thứ ba và trong trường hợp này giá cả không được ban hành hoặc ghi chép”.
Đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực trong thời hạn được xác định trong bản đề nghị giao kết hợp đồng. Nếu không xác định được thời hạn có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực trong một thời gian hợp  lý kể từ thời điểm bên được đề nghị nhận được đề nghị giao kết hợp đồng. Nếu hết thời hạn có hiệu lực mà đề nghị giao kết hợp đồng không được chấp nhận thì đương nhiên chấm dứt hiệu lực. Ngoài ra, đề nghị giao kết hợp đồng cũng chấm dứt khi người đề nghị, người được đề nghị, đối tượng của hợp đồng không còn tồn tại trước khi đề nghị được chấp nhận. Đề nghị giao kết hợp đồng cũng có thể chấm dứt hiệu lực nếu thuộc các trường hợp khác mà pháp luật quy định.

3.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là hành vi của người đề nghị giao kết hợp đồng thể hiện sự đồng ý với đề nghị giao kết hợp đồng. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thể hiện bằng ngôn ngữ (nói, viết) hoặc bằng hành vi. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải được thông tin đến người đề nghị. Nếu trong đề nghị giao kết hợp đồng phương thức chuyển tải thông tin về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng được xác định rõ hoặc mặc nhiên suy đoán, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm được gửi đi nếu người được đề nghị gửi chấp nhận bằng phương thức nêu trên và hợp đồng được xác lập kể từ thời điểm này. Nếu trong đề nghị giao kết hợp đồng không nêu rõ ràng hoặc ám chỉ về phương thức gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, thì chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể được gửi bằng phương thức hợp lý. Trong trường hợp này, nếu phương thức gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng giống với phương thức gửi đề nghị giao kết hợp đồng hoặc phương thức gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hợp lý thì chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm được gửi đi153. Các trường hợp còn lại sẽ áp dụng thuyết tống đạt, có nghĩa là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có hiệu lực khi người đề nghị nhận được.

3.3 Hình thức của hợp đồng

Hợp đồng có thể tồn tại dưới hình thức văn bản, bằng lời nói hoặc thông qua hành vi của các bên. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, hợp đồng phải tồn tại bằng văn bản nếu không sẽ không được Tòa án thừa nhận hiệu lực pháp lý: (1) Hợp đồng liên quan đến đất đai; (2) Hợp đồng có thời hạn thực hiện từ một năm trở lên kể từ thời điểm được xác lập; (3) Nghĩa vụ bảo đảm hoặc nghĩa vụ thứ cấp, là nghĩa vụ phái sinh của nghĩa vụ cơ sở, như: nghĩa vụ trả nợ thay hoặc thực hiện nghĩa vụ thay cho người khác nếu người này không trả được nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trừ trường hợp người bảo đảm xác lập nghĩa vụ thứ cấp để bảo đảm cho lợi ích riêng hoặc cam kết của người quản lý di sản thừa kế của người chết trả nợ thay cho người chết; (4) Nghĩa vụ được xác lập khi kết hôn bao gồm cả hợp đồng xác định quyền sở hữu của vợ chồng trước khi kết hôn; (5) Hợp đồng mua bán hàng hóa có giá trị từ 500 USD trở lên (Điều 2-201 của UCC), hợp đồng thuê hàng hóa có tổng số tiền thanh toán trừ khoản thanh toán cho quyền chọn gia hạn hợp đồng hoặc mua từ 1.000 USD trở lên (Điều 2A-201 của UCC).
Hậu quả pháp lý trong trường hợp hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức là Tòa án không thừa nhận hiệu lực pháp lý của hợp đồng. Song, Tòa án cũng đưa ra các ngoại lệ và khi đó, hiệu lực của hợp đồng vẫn được thừa nhận, các trường hợp đó là: (1) Khi các bên đã thực hiện một phần nghĩa vụ; (2) Nếu bên có nghĩa vụ khai nhận trong quá trình tố tụng về việc có tồn tại nghĩa vụ thì hợp đồng bằng lời nói cũng vẫn được thừa nhận; (3) Trong trường hợp áp dụng học thuyết cam kết không thể từ bỏ. Bên cạnh đó, UCC quy định hợp đồng mua bán hàng hóa theo đặt hàng riêng của khách hàng và hàng hóa này không phù hợp để bán lại cho người khác trong điều kiện thương mại bình thường của người bán, hợp đồng giữa hai thương nhân được xác nhận trong một bản ghi nhớ vẫn có khả năng được công nhận hiệu lực mặc dù tồn tại bằng lời nói.

4. Các trường hợp ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng

Hợp đồng được xác lập giữa các bên có đầy đủ 05 yếu tố như đã phân tích ở phần trên là hợp đồng có hiệu lực pháp lý. Tuy nhiên, trong thực tiễn có nhiều hợp đồng vì khiếm khuyết mà hiệu lực pháp lý của hợp đồng bị ảnh hưởng. Các mức độ ảnh hưởng: hợp đồng có khả năng bị hủy bỏ (voidable contracts), hợp đồng không được công nhận hiệu lực (unenforceable contracts) và hợp đồng vô hiệu (void contracts).
Hợp đồng có khả năng bị hủy bỏ nếu thuộc các trường hợp:
(1) Các bên không có năng lực giao kết hợp đồng. Hợp đồng được giao kết bởi người chưa thành niên, người bị mắc bệnh tâm thần hoặc người bị lâm vào tình trạng say có khả năng bị hủy bỏ theo sự lựa chọn của bên yếu thế (người chưa thành niên, người bị mắc bệnh tâm thần hoặc người bị lâm vào tình trạng say). “Một người không có năng lực giao kết hợp đồng thì có thể được giải trừ khỏi nghĩa vụ thực hiện hợp đồng”154. Như vậy người yếu thế có quyền thừa nhận hiệu lực của hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng. Tuy nhiên, quyền hủy bỏ hợp đồng chỉ tồn tại trong thời gian người yếu thế không có năng lực giao kết hợp đồng và một thời gian hợp lý sau khi người này có đầy đủ năng lực giao kết hợp đồng; (2) Gây nhầm lẫn (misrepresentation): được thể hiện dưới dạng một bên đưa thông tin không đúng sự thật cho bên còn lại làm cho bên còn lại nhầm lẫn dẫn đến xác lập quan hệ hợp đồng. Trong một số trường hợp sự im lặng cũng có thể được coi là gây nhầm lẫn nếu bên im lặng có nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực và đầy đủ nhưng bên im lặng đã không cung cấp thông tin hoặc thực hiện hành vi che giấu sự thật. Gây nhầm lẫn có hai loại là gây nhầm lẫn vô ý và cố ý gây nhầm lẫn (fraudulent mispresentation); (3) Cưỡng ép: là trường hợp một bên đe dọa để buộc một bên giao kết hợp đồng ngoài ý muốn của người bị cưỡng ép. (4) Sử dụng ảnh hưởng không chính đáng: là trường hợp một bên mạnh thế trong quan hệ tín thác (confidential relationships) lợi dụng bên yếu thế bằng cách xác lập một quan hệ hợp đồng với bên yếu thế. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên yếu thế trong trường hợp gây nhầm lẫn, cưỡng ép và sử dụng ảnh hưởng không chính đáng, pháp luật dành cho bên yếu thế có quyền hủy bỏ hợp đồng và nhận lại những gì đã giao theo hợp đồng. Bên yếu thế phải thực hiện quyền hủy bỏ hợp đồng trong một thời gian hợp lý nếu không hợp đồng sẽ đương nhiên có hiệu lực pháp lý.
Hợp đồng không được công nhận hiệu lực thường thuộc trường hợp vi phạm về hình thức. Trong khi đó, hợp đồng vô hiệu là trường hợp hợp đồng được giao kết bởi người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi, trái với pháp luật hoặc trật tự công cộng. Hợp đồng vô hiệu được hiểu là không tồn tại hợp đồng giữa các bên kể cả từ thời điểm xác lập hợp đồng giữa các bên. Như vậy, hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Theo pháp luật của nhiều bang, một số chuyên gia phải được cấp chứng chỉ hoặc giấy phép hành nghề mới được cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp. Ví dụ: một người không có chứng chỉ hành nghề luật sư nhưng vẫn ký hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn luật cho khách hàng. Hợp đồng trong trường hợp này được coi là vô hiệu, người cung cấp dịch vụ không có quyền truy đòi thù lao từ khách hàng mặc dù đã cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Trong quan hệ hợp đồng, nguyên tắc công bằng là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất vì khi tham gia giao kết hợp đồng, các bên đều mong muốn cùng có lợi. Nguyên tắc công bằng có ý nghĩa bảo đảm sự bền vững trong các mối quan hệ hợp đồng trong đời sống kinh tế - xã hội. Vì vậy, những trường hợp hợp đồng không công bằng (unconscionable contracts) được coi là trái với trật tự công cộng và vô hiệu. Hợp đồng không công bằng là hợp đồng “không dành cho một bên sự lựa chọn đáng kể nào cùng với những điều khoản có lợi cho bên còn lại một cách bất hợp lý”155. Một hợp đồng không công bằng phải là hợp đồng không công bằng về thủ tục và nội dung.
Không công bằng về thủ tục là trường hợp một bên không có cơ hội để thực hiện quyền đàm phán hợp đồng. Trong thực tiễn, một bên có thể để dòng chữ in khó đọc, câu từ khó hiểu hoặc làm cách khác để cho bên còn lại ít cơ hội để đọc và hiểu được hợp đồng. Trong quan hệ giữa bên mạnh thế và bên yếu thế, bên mạnh thế sử dụng hợp đồng mẫu và áp dụng nguyên tắc “chấp nhận hoặc từ bỏ” (take-it-or-leave-it) để buộc bên yếu thế nếu muốn giao kết hợp đồng thì phải chấp nhận toàn bộ nội dung đã soạn sẵn hoặc là từ bỏ việc giao kết hợp đồng.
Trong thực tiễn, Tòa án thường dựa vào các yếu tố sau đây để xác định tính không công bằng về nội dung: “(a) Điều khoản hợp đồng lấy đi lợi ích của một bên hoặc không dành cho bên này bất kỳ một biện pháp chế tài nào trong trường hợp một bên không thực hiện hợp đồng; (b) Điều khoản không có mối liên hệ hợp lý với rủi ro kinh doanh liên quan; (c) Điều khoản tạo ra lợi thế đáng kể cho một bên mà không tạo ra lợi ích tương xứng cho bên còn lại; hoặc (d) Sự khác biệt rất lớn giữa chi phí và giá bán của đối tượng hợp đồng mà không có sự đánh giá khách quan”156.

5. Quyền của người thứ ba

Bên thứ ba không là một bên trong quan hệ hợp đồng. Trong nhiều trường hợp, mặc dù không là một bên trong quan hệ hợp đồng nhưng người thứ ba có những quyền hoặc nghĩa vụ nhất định phát sinh từ hợp đồng. Các trường hợp đó bao gồm: hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba (a third-party beneficiary contract), chuyển giao quyền hợp đồng (assignment) và chuyển giao nghĩa vụ hợp đồng (delegation).
Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba. Để xác định một người thứ ba có phải là người thụ hưởng từ một hợp đồng hay không, Tòa án cần phải xác định ý chí của các bên giao kết hợp đồng thông qua ngôn ngữ của hợp đồng hoặc hoàn cảnh xung quanh.
Chuyển giao quyền hợp đồng (assignment): Chuyển giao quyền hợp đồng là giao dịch mà một bên trong hợp đồng chuyển giao quyền phát sinh từ hợp đồng của mình cho người thứ ba. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế ở Hoa Kỳ, phần lớn người lao động Hoa Kỳ vay tiền để mua sắm nhà, xe và hàng tiêu dùng (vay tiêu dùng) nên để ngăn ngừa việc các ngân hàng thu hồi hết các khoản lương của người lao động thông qua giao dịch chuyển giao quyền hợp đồng, pháp luật ở nhiều bang cấm chuyển giao quyền hưởng lương trong tương lai của người lao động. Ngoài ra, nhiều bang còn cấm chuyển giao các quyền phát sinh từ hợp đồng dịch vụ cá nhân, quyền mang tính chất cá nhân (trừ quyền yêu cầu thanh toán), quyền có tính chất nhân thân, việc chuyển giao làm thay đổi đáng kể nghĩa vụ hoặc rủi ro cho người có nghĩa vụ... Các bên cũng có thể thỏa thuận trong hợp đồng về việc cấm chuyển giao quyền hợp đồng. Thỏa thuận cấm chuyển giao quyền hợp đồng không làm các bên mất quyền chuyển giao đối với: (1) quyền nhận các nguồn quỹ (rights to receive funds); (2) quyền đối với bất động sản; (3) công cụ chuyển nhượng; (4) quyền nhận bồi thường từ hành vi vi phạm hợp đồng hoặc quyền nhận thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Bên nhận chuyển giao có nghĩa vụ thông báo về việc chuyển giao cho bên có nghĩa vụ nếu không bên có nghĩa vụ vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đối với bên chuyển giao. Bên chuyển giao quyền không có nghĩa vụ bảo đảm rằng bên có nghĩa vụ sẽ thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ cho bên nhận chuyển giao quyền.
Chuyển giao nghĩa vụ hợp đồng: Chuyển giao nghĩa vụ là giao dịch mà bên có nghĩa vụ chuyển giao nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng cho bên thứ ba. Phần lớn các nghĩa vụ hợp đồng được chuyển giao nhưng các nghĩa vụ có tính chất cá nhân bị pháp luật cấm chuyển giao. Nghĩa vụ cũng không được chuyển giao nếu việc chuyển giao làm thay đổi đáng kể quyền trong hợp đồng của bên có quyền. Các bên cũng có thể thỏa thuận trong hợp đồng về việc cấm chuyển giao nghĩa vụ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, đối với các nghĩa vụ hoàn toàn không có tính chất cá nhân, Tòa án vẫn chấp nhận chuyển giao dù trong hợp đồng có điều khoản cấm chuyển giao nghĩa vụ. Bên nhận chuyển giao nghĩa vụ không phải thông báo cho bên có quyền. Tuy nhiên, việc chuyển giao nghĩa vụ không chấm dứt nghĩa vụ của bên chuyển giao đối với bên có quyền. Trong trường hợp bên nhận chuyển giao nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ thì bên có quyền sẽ yêu cầu bên chuyển giao nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ đối với mình.

6. Chế tài hợp đồng

Pháp luật Hoa Kỳ chia chế tài hợp đồng thành chế tài vật chất (remedies at law) và chế tài công bình (remedies in equity).

6.1 Chế tài vật chất

Chế tài vật chất rất đa dạng. Dưới đây là một số chế tài vật chất tiêu biểu trong pháp luật hợp đồng của Hoa Kỳ:
Bồi thường khoản lợi ích mong đợi (exptectation damages): Đây là biện pháp chế tài buộc bên vi phạm phải bồi thường cho bên bị vi phạm khoản lợi ích mà đáng lẽ bên bị vi phạm được hưởng nếu nghĩa vụ hợp đồng được thực hiện đúng và đầy đủ. Thiệt hại về lợi ích mong đợi được hiểu là: “(a) Tổn thất về giá trị gây ra bởi việc không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện hợp đồng không đầy đủ; cộng với (b) Bất kỳ tổn thất nào, bao gồm cả tổn thất phụ (incidential damages) và tổn thất đặc thù (consequential damages); trừ đi (c) Bất kỳ chi phí nào hoặc tổn thất mà bên bị vi phạm tránh được vì không phải thực hiện nghĩa vụ”
Thiệt hại  bao  gồm  thiệt  hại  chung  (general  damages)  là hậu quả tự nhiên của hành vi vi phạm và thiệt hại đặc thù (consequential damages) là hậu quả phát sinh từ một hoàn cảnh đặc thù. Đối với tổn thất đặc thù, bên vi phạm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường nếu bên vi phạm biết hoặc có lý do để biết hoàn cảnh đặc thù này. Trong vụ Young v. Abalene Pest Control Services, Inc. 444 A.2d 514 (Sup. Ct. N.H. 1982): “Trước khi mua nhà, Nancy và Kevin đã thuê Abalene Pest Control Services, Inc. (Abalene) để kiểm tra xem nhà có côn trùng không. Abalene ra một văn bản xác nhận rằng: “Không có dấu hiệu của mọt và các côn trùng phá hoại đồ gỗ khác”. Dựa vào báo cáo này, Young mua nhà. Ba ngày sau khi chuyển vào ở họ phát hiện ra bọ và một tuần sau người kiểm tra tòa nhà xác nhận là có mối và kiến. Kiến xuất hiện ở đây được vài tháng. Sau đó, Nancy vô cùng sợ hãi và khủng hoảng tinh thần và bác sỹ phải cho cô sử dụng thuốc an thần. Sau một tháng gia đình Youngs chuyển khỏi ngôi nhà và Nancy quyết tâm tự tử bằng thuốc an thần. bồi thường vì hành vi vi phạm của công ty này dẫn đến Nancy bị trầm cảm. Trong vụ này, rõ ràng là Abalene đã vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên Abalenen chỉ chịu trách nhiệm bồi thường khoản thiệt hại đặc thù nếu công ty này có lý do để biết hoàn cảnh đặc thù  là hành vi vi phạm có thể gây ra tình trạng trầm cảm cho Nancy tại thời điểm giao kết hợp đồng. Trong trường hợp này Abalenne không thể biết được về sức khỏe tâm thần của Nancy”158. Như vậy bên vi phạm sẽ không phải bồi thường thiệt hại nếu như giữa hành vi vi phạm và thiệt hại không có mối quan hệ nhân quả. Mối quan hệ nhân quả được xác định như sau: “(1) Nếu bên vi phạm không có lý do để dự đoán tổn thất như là hậu quả có khả năng xảy ra từ hành vi vi phạm hợp đồng khi hợp đồng được xác lập thì không phải bồi thường; (2) Tổn thất có thể được dự đoán như là hậu quả có khả năng xảy ra từ hành vi vi phạm hợp đồng nếu được gây ra bởi hành vi vi phạm: (a) Theo quy luật tự nhiên; (b) Không theo quy luật tự nhiên, mà là hậu quả của hoàn cảnh đặc thù mà bên vi phạm có lý do để biết”159.
Bên bị vi phạm có nghĩa vụ giảm thiểu thiệt hại (mitigation of damages), nghĩa là bên bị vi phạm phải áp dụng các biện pháp cần thiết và hợp lý để giảm thiểu thiệt hại cho mình ở mức không gây rủi ro quá mức, không tăng gánh nặng chi phí và không làm mất uy tín.
Bồi thường các khoản chi phí đã phát sinh do tin tưởng (reliance damages): Trong trường hợp vì tin tưởng một cách hợp lý rằng một nghĩa vụ hợp đồng sẽ được thực hiện, một bên đã bỏ chi phí hợp lý ra thì được quyền yêu cầu bên vi phạm phải bồi thường khoản chi phí này.
Ngoài ra, trong pháp luật của Hoa Kỳ còn có chế tài bồi thường có tính chất phạt (punitive damages) và bồi thường tượng trưng (nominal damages). Bồi thường có tính chất phạt là khoản bồi thường mà Tòa án áp dụng nhằm răn đe người có hành vi vi phạm hợp đồng; không dựa vào thiệt hại thực tế mà nguyên đơn phải gánh chịu mà được xác định bởi Tòa án và thường được áp dụng trong các trường hợp lừa đảo, ép buộc và cố ý vi phạm. Bồi thường tượng trưng là một khoản bồi thường rất nhỏ do Tòa án áp dụng khi không có thiệt hại thực tế.

6.2 Chế tài công bình

Trong nhiều trường hợp, chế tài vật chất không phù hợp với một hành vi vi phạm hợp đồng nhất định, khi đó, Tòa án sẽ áp dụng chế tài công bình trên cơ sở ý niệm về sự công bằng và công lý. Chế tài công bình gồm buộc thực hiện hợp đồng, lệnh ngăn chặn, hoàn trả, sửa đổi hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng.
Buộc thực hiện hợp đồng (specific performance) là biện pháp chế tài mà Tòa án áp dụng nhằm buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là độc đáo hoặc hiếm. Các tài sản như tác phẩm nghệ thuật, đồ cổ, đồ gia truyền, bất động sản là tài sản độc đáo. Đối với các hợp đồng dịch vụ cá nhân (personal services contracts), Tòa án sẽ từ chối áp dụng biện pháp buộc thực hiện hợp đồng vì việc buộc một cá nhân phải thực hiện một công việc trái với ý muốn là vi phạm Tu chính án số 13 của Hiến pháp Hoa Kỳ
Hủy bỏ hợp đồng (rescission): Hủy bỏ hợp đồng là biện pháp chế tài dành cho bên bị vi phạm thực hiện khi có hành vi vi phạm nghiêm trọng. Các trường hợp hủy bỏ hợp đồng thường do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Hủy bỏ hợp đồng cũng được áp dụng trong trường hợp hợp đồng bị khiếm khuyết vì lừa dối, cưỡng ép, ảnh hưởng không chính đáng, gây nhầm lẫn hoặc không có năng lực giao kết hợp đồng hoặc các trường hợp khác do pháp luật quy định. Hủy bỏ hợp đồng không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên từ thời điểm giao kết hợp đồng.
Ngoài các chế tài trên, còn có các chế tài công bình khác như hoàn trả, sửa đổi hợp đồng. Hoàn trả là biện pháp chế tài được áp dụng để buộc một bên trả lại giá trị bằng tiền của lợi ích mà bên này nhận được từ việc thực hiện một phần hợp đồng. Hoàn trả thường đi kèm theo biện pháp hủy bỏ hợp đồng. Sửa đổi hợp đồng là một biện pháp chế được Tòa án áp dụng khi mà các bên không thể hiện một các hoàn hảo ý chí, nguyện vọng của mình trong hợp đồng.
Khi một bên thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ do gặp trở ngại khách quan làm cho việc thực hiện hợp đồng trở lên khó khăn hoặc nếu thực hiện sẽ tốn kém chi phí đến mức bên có nghĩa vụ sẽ chịu thiệt hại đáng kể thì bên có nghĩa vụ sẽ được miễn trừ trách nhiệm. Trở ngại khách quan có đặc điểm: (1) là một sự kiện khách quan chứ không phải là năng lực chủ quan của bên có nghĩa vụ. Sự kiện khách quan có thể là sự kiện bất khả kháng, hành vi của Nhà nước, tác động của bên thứ ba…; (2) xảy ra không do lỗi của bên có nghĩa vụ; (3) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không biết hoặc không buộc phải biết có trở ngại khách quan này xảy ra; (4) Bên có nghĩa vụ không chấp nhận rủi ro của trở ngại khách quan này. Sự chấp nhận có thể được chứng minh bằng ngôn ngữ minh thị mà bên có nghĩa vụ bộc lộ ra hoặc được mặc nhiên suy đoán từ tình huống cụ thể. Trong trường hợp một sự kiện khách quan xảy ra sau khi hợp đồng được giao kết làm cho mục đích của hợp đồng không đạt được thì các bên được miễn trừ nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Sự kiện khách quan này phải là sự kiện mà các bên không biết hoặc buộc phải biết sẽ xảy ra và bên yêu cầu miễn trừ không chấp nhận rủi ro của sự kiện này. Đồng thời, bên yêu cầu miễn trừ phải chứng minh được rằng tất cả các bên trong hợp đồng đều biết mục đích của hợp đồng và khi mục đích của hợp đồng không đạt được thì không còn hữu ích cho bên yêu cầu miễn trừ.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê