1 Phát hiện bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giảm đốc thẩm

Theo Điều 243 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, thì người bị kết án, các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật trong các bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật với những người có thẩm quyền kháng nghị để những người này xét có quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hay không. Nếu không có căn cứ khẫhg nghị, thì người có quyền kháng nghị phải trả lời cho người hoặc cơ quan tổ chức đã phát hiện biết rõ lý do vì sao không kháng nghị

Còn theo điều 327 BLTTHS năm 2015 quy định Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân có quyền phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị. Tòa án nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện để phát hiện vi phạm pháp luật và kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị.Tòa án quân sự cấp quân khu thực hiện việc kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực để phát hiện vi phạm pháp luật và kiến nghị Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét kháng nghị. Khi thực hiện công tác giám đốc việc xét xử, kiểm sát việc xét xử hoặc qua các nguồn thông tin khác mà Tòa án, Viện kiểm sát phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì thông báo ngay bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị.

Việc không hạn chế quyền phát hiện vi phạm pháp luật trong các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật là thể hiện quyền giám sát hoạt động xét xử của toàn xã hội đối với Toà án. Tuy nhiên, hoạt động phát hiện những vi phạm pháp luật trong công tác xét xử của Toà án với khiếu nại của những người tham gia tố tụng trong một vụ án không phải là một. Trong đơn khiếu nại cũng có thể chứa đựng nội dung của những phát hiện các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, nhưng tin phát hiện thì không chỉ chứa đựng nội dung khiếu nại. Phát hiện thực chất là hình thức khiếu tố

Ngoài phát hiện của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hệi và mọi công dân, thì bản thân Toà án và Viện kiểm sát không chỉ có quyền mà còn có nghĩa vụ phát hiện những vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án mấ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp' luật để báo cho người có quyền kháng nghị biết.

Đối với Toà án, việc phát hiện những vi phạm pháp luật trong các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật thông qua hoạt động kiểm tra công tác xét xử của Toà án cấp trên đối với Toà án cấp dưới với nhiều hình thức như: kiểm tra thường xuyên bằng cách xem xét các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới; thông qua việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo. Ngoài việc kiểm tra thường xuyên, còn kiểm tra định kỳ. Kiểm tra định kỳ thường được áp dụng để xem xét chất lượng xét xử của một hoặc một số Toà án trong một thời gian nhất định (sáu tháng hoặc một năm). Ngoài việc kiểm tra của Toà án cấp trên đôi với Toà án cấp dưới, thì ở từng Toà án cũng tự kiểm tra hoạt động xét xử của Toà án mình, nếu phát hiện bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật có sai lầm thì phải báo cáo với người có quyền kháng nghị để xem xét việc có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hay không.

Đối với Viện kiểm sát, trong khi thực hiện quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật cũng có quyền kiểm tra công tác xét xử của Toà án bằng cách xem xét các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cùng cấp hoặc cấp dưới gửi đến cho mình theo quy định của pháp luật; thông qua việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân về các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Viện kiểm sát có thể tự mình hoặc phối hợp với Toà án cùng cấp thành lập các Đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra công tác xét xử của Toà án và công tác kiểm sát của Viện kiểm sát cấp dưới. Hoạt động kiểm tra của Viện kiểm sát còn thông qua các báo cáo của Viện kiểm sát cấp dưới về tình hình xét xử của Toà án cấp đó và kiến nghị xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm

2 Kháng nghị bản án , quyết định có hiệu lực theo thủ tục giám đốc thẩm

Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án.

Để giám đốc thẩm một vụ án hình sự thì có nhiều hoạt động tố tụng như: phát hiện, kháng nghị, tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định bị kháng nghị, phiên toà giám đốc thẩm, quyết định giám đốc thẩm v.v... Trong các hoạt động trên, thì kháng nghị là hoạt động quan trọng nhất, vì không có kháng nghị thì cũng không có giám đốc thẩm.

Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là quyết định của người có thẩm quyền đối với một phần hoặc toàn bộ bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật để Toà án có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm.

Kháng nghị không phải là khái niệm duy nhất chỉ có trong trình tự giám đôc thẩm mà nó còn là căn cứ để xét xử phúc thẩm hoặc tái thẩm. Ngoài ra, trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan Nhà nước, Viện kiểm sát còn có những kháng nghị yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội huỷ bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành các văn bản pháp quy trái với Hiến pháp, pháp luật.

2.1 Căn cứ kháng nghị

Việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, người ra quyết định phải tuân theo những quy định của pháp luật, các quy định này gọi là căn cứ kháng nghị.

Căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do luật tố tụng hình sự quy định, buộc người có quyền kháng nghị phải tuân theo khi ra quyết định kháng nghị một bản án hoặc quyết định đã có. hiệu lực của Toà án.

Theo điều 371 BLTTHS năm 2015 Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ:

- Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án;

- Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

2.2 Thời hạn kháng nghị

Việc phát hiện bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm kịp thời để báo với người có quyền kháng nghị biết là một việc rất quan trọng. Bởi lẽ, không phải những vĩ phạm pháp luật nào trong việc xử lý vụ án cũng được khắc phục ở cấp giám đốc thẩm. Việc quy định thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm cũng chính là để tăng cường công tác giám đốc việc xét xử của Toà án cấp trên đối với Toà án cấp dưới

Theo quy định tại điều 379 BLTTHS năm 2015 thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm như sau

- Việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.Như vậy, kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án là không có thời hạn. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào hễ cứ có lợi cho người bị kết án là quyết định kháng nghị được mà phải tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể để quyết định có kháng nghị hay không. Ví dụ: một người bị kết án 3 năm tù, đã chấp hành xong hình phạt tù. Sau khi ra tù người này đề nghị cho họ hưởng án treo để được giải quyết chế độ nghỉ hưu. Trong trường hợp này, dù có muốn kháng nghị theo hướng cho người này được.hưởng án treo (theo hướng có lợi) thì cũng không thể thực hiện được, bởi lẽ án treo không phải‘là một loại hình phạt, án treo chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt có điều kiện. Hình phạt tù mà Toà án áp dụng đối với họ, họ đã chấp hành xong nếu đặt vấn đề miễn chấp hành hình phạt tù đối với họ là vô nghĩa. Vì vậy, dù có lợi cho người bị kết án thì trong trường, hợp cụ thể này việc kháng nghị cũng không thực hiện được

- Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.

- Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Nếu không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì người có quyền kháng nghị phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị biết rõ lý do của việc không kháng nghị.

2.3 Hậu quả pháp lý khi bản án hoặc quyết định bị kháng cáo ,kháng nghị

Theo quy định tại điều 339 BLTTHS năm 2015 quy định Những phần của bản án, quyết định của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 của Bộ luật này. Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 của Bộ luật này.Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có) cho Tòa áp cấp phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Khoản 3 điều 453 BLTTHS năm 2015 Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh có hiệu lực thi hành cho đến khi có quyết định khác thay thế hoặc hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Về nguyên tắc, quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chưa làm mất hiệu lực pháp luật của bản án hoặc quyết định bị kháng nghị, nếu người kháng nghị không quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án. Nếu bản kháng nghị ghi "tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù đối với người bị kết án" thì người bị kết án đang cải tạo trong trại giam được trả tự do ngay, nếu chưa bị bắt chấp hành hình phạt tù thì vẫn tiếp tục được tại ngoại cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử có nhiều trường hợp người kháng nghị không quyết định tạm đình chỉ thi hành án, nhưng Tòa án đã xét xử sơ thẩm khi nhận kháng nghị đã tự ý không thi hành bản án đã có hiệu lực mà chờ quyết định giám đốc thẩm.

2.4 Thông báo kháng nghị

Đối với kháng nghị của Chánh án, tuy luật không quy định phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, nhưng thực tiễn xét xử bao giờ cũng phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp để Viện kiểm sát chuẩn bị ý kiến của mình khi tham gia phiên toà giám đốc thẩm. Việc gửi kháng nghị cho Viện kiểm sát cùng cấp là thực hiện chức năng kiểm sát . việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự

Theo điều 338 BLTTHS năm 2015 về thông báo nhận kháng cáo kháng nghị

- Việc kháng cáo phải được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người liên quan đến kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo. Thông báo phải nêu rõ yêu cầu của người kháng cáo.

- Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng nghị, Viện kiểm sát phải gửi quyết định kháng nghị kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, gửi quyết định kháng nghị cho bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị. Viện kiểm sát đã kháng nghị phải gửi quyết định kháng nghị cho Viện kiểm sát khác có thẩm quyền kháng nghị.

- Người tham gia tố tụng nhận được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm. Ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.

2.5 Bổ sung kháng nghị, rút kháng nghị

cấp giám đốc thẩm, việc bổ sung kháng nghị hoặc rút kháng nghị cũng được đặt ra trước khi bắt đầu phiên toà giám đốc thẩm. Nhưng khác với thủ tục phúc thẩm, giới hạn của việc bổ sung kháng nghị ở cấp giám đốc thẩm không bị hạn chế theo hướng không được làm xấụ hơn tình trạng của người bị kết án, mà người đã kháng nghị có quyền bổ sung kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án. Tuy nhiên, lại bị hạn chế ở chỗ chỉ được bổ sung hoặc rút kháng nghị trước khi bắt đầu phiên toà, còn trong phiên toà người kháng nghị không có quyền bể sung hoặc rút kháng nghị nữa.

Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nhất thiết phải bằng văn bản do Toà án hoặc Viện kiểm sát ban hành. Nó không chỉ là căn cứ để làm phát sinh một trình tự tố tụng mới. Thủ tục giám đốc thẩm không chỉ là hành vi tố tụng mà còn là hoạt động giám đốc xét xử của Toà án cấp trên đối với cấp dưới và là hóạt động kiểm sát công tác xét xử của Viện kiểm sát đối với hoạt động xét xử của Toà án.

Điều 381 BLTTHS năm 2015 quy định về Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị

- Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị. Việc bổ sung, thay đổi kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải bằng quyết định và được gửi theo quy định tại khoản 1 Điều 380 của Bộ luật này. Việc bổ sung, thay đổi kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.

- Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị. Việc rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải bằng quyết định; việc rút kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.

- Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.

Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án gửi quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm cho những người quy định tại khoản 1 Điều 380 của Bộ luật này và Viện kiểm sát cùng cấp.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!