Trong đó, cần chú trọng một số khía cạnh sau:
Một là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật phải toàn diện, thống nhất, đồng bộ, với kĩ thuật lập pháp ở trình độ cao. Pháp luật phải phản ánh đúng ý chí, lợi ích của nhân dân, pháp luật phải nhân đạo, nhân văn, vì con người, phục vụ con người. Pháp luật phải được xây dựng trên cơ sở đạo đức truyền thống tốt đẹp, những thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Cần xác định đúng đắn giới hạn tác động của pháp luật, pháp luật không thể và không cần thiết điều chỉnh tất cả các mối quan hệ trong xã hội. Các biện pháp xử lí của pháp luật phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Điều chỉnh quan hệ xã hội bằng pháp luật phải đảm bảo hiệu quả về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại... cộng lại.
Hai là, xây dựng, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức
Đạo đức là nền tảng tinh thần của mọi xã hội. Nhà nước cần thực hiện đồng bộ các biện pháp để giữ gìn và phát huy các quan niệm, chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, loại bỏ những quan niệm đạo đức lạc hậu, ngăn chặn sự thoái hoá, xuống cấp của đạo đức, tiếp thu các chuẩn mực đạo đức tiến bộ của nhân loại. Pháp luật cần quy định trách nhiệm của mỗi cá nhân và thiết chế xã hội trong việc xây dựng, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tín đại chúng, các tổ chức xã hội nhất là tổ chức tôn giáo, gia đình, nhà trường, các loại hình văn hoá, nghệ thuật, các lễ hội truyền thống, các cá nhân có tầm ảnh hưởng lớn trong xã hội như các nhà chính trị, các vị linh mục, sư sãi, các nhà giáo, các văn nghệ sĩ, các già làng, trưởng bản, các vị bô lão... cần xây dựng bảng chuẩn mực đạo đức, văn hoá đối với con người Việt Nam nói chung với nội dung ngắn gọn, dễ nhớ để mọi người dù học vấn thấp đều có thể thấm nhuần. Bảng này cần được trình bày một cách trang trọng, đặt ở những vị trí thích hợp nơi công cộng để mọi người đều dễ dàng nắm bắt và thực hiện tốt. Khuyến khích xây dựng các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, khuyến khích nông dân, thợ thủ công tập hợp thành các phường, hội, làng nghề, hợp tác xã..., trong đó mỗi thiết chế đều có những chuẩn mực đạo đức riêng.
Ba là, giữ gìn bảo lưu các thuần phong mỹ tục, đổng thời loại bỏ các phong tục tập quán lạc hậu, phản tiến bộ
Cần sưu tầm, tập hợp hoá các phong tục, tập quán trên khắp cả nước. Thừa nhận và khuyến khích việc ứng xử theo các phong tục tập quán tốt đẹp của cộng đồng. Khuyến khích và đưa vào quĩ đạo của pháp luật việc tổ chức các lễ hội truyền thống thể hiện những thuần phong mĩ tục, bản sắc văn hoá của dân tộc. Bên cạnh biện pháp pháp lí, nhà nước cần sử dụng đồng bộ các biện pháp kinh tế, văn hoá... nhằm nâng cao dân trí, ý thức pháp luật, ý thức chính trị, xoá bỏ triệt để cơ sở của sự tồn tại những phong tục, tập quán lạc hậu, phản tiến bộ.
Bổn là, khuyến khích việc xây dựng hưomg ước, quy ước trong các cộng đồng dân cư
Pháp luật hiện hành của Nhà nước ta đã có các quy định về xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư. Cần tuyên truyền sâu rộng trong toàn xã hội về vai trò, tác dụng của hương ước. Bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ có thẩm quyền để hỗ trợ, giủp đỡ có hiệu quả các cộng đồng dân cư xây dựng hương ước. Nội dung của hương ước cần cụ thể, thiết thực, bám sát đời sống của thôn, làng, phản ánh đúng nhu cầu thực tế cũng như tính đặc thù về lịch sử, địa lí, dân cư, nghề nghiệp, phong tục tập quán, truyền thống, tín ngưỡng... của từng thôn, làng. Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, cán bộ hưu trí, cựu chiến binh, các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, trưởng tộc và những người khác có uy tín, trình độ trong cộng đồng trong xây dựng và thực hiện hương ước. Đề cao trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc phê chuẩn hương ước.
Năm là, nghiên cứu vận dụng luật tục
Hiện nay, luật tục vẫn tồn tại và giữ một vai trò không nhỏ trong việc điều chỉnh các mối quan hệ trong đời sống người dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên. Trên thực tế, không ít trường hợp luật tục được người dân tuân thủ nghiêm chỉnh, triệt để hơn so với pháp luật. “Có những vụ việc mặc dù toà án nhân dãn các cấp đã xét xử, nhưng người dân vẫn yêu cầu buôn làng xử lại và bản án xét xử theo luật tục được buôn làng chấp nhận hơn bất kì một bản án nào khác”. Vì vậy, cần tổ chức nghiên cứu sâu sắc để khai thác và vận dụng những giá trị của luật tục. Khuyến khích các cộng đồng dân tộc thiểu số xây dựng quy ước làng văn hoá dựa ữên cơ sở của luật tục. Đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân loại bỏ những quy định trong luật tục đã lỗi thời, lạc hậu không phù họp với pháp luật, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiến bộ xã hội. Trên cơ sở luật tục của các dân tộc thiểu số, nhà nước có thể vận dụng để xây dựng các văn bản pháp luật để áp dụng cho chính cộng đồng dân tộc đó. Các văn bản này có phạm vi điều chỉnh tương đương luật tục nhung được diễn đạt bằng ngôn ngữ hiện đại, ngắn gọn. về nội dung, các văn bản này cơ bản tuân thủ luật tục, tất nhiên phải sửa đổi cho phù hợp với tiến bộ xã hội. Bên cạnh các biện pháp xử lí của luật tục (cúng tạ tội, phạt tiền...), có thể bổ sung thêm các biện pháp xử lí của nhà nước như tịch thu tài sản, phạt tù...
Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của nhà nước đổi với kỉ luật của các tổ chức xã hội
Việc thành lập các tổ chức xã hội phải đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật. Nhà nước phải thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát đối với kỉ luật của các tổ chức xã hội thông qua thủ tục đăng kí, phê duyệt hiến chương, điều lệ, nội quy... của các tổ chức đó.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)