Luật sư tư vấn:

1. Quyền sở hữu trí tuệ được quy định như thế nào trên thế giới ?

Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của các nước trên thế giới được hình thành vào các thời điểm khác nhau, ở một số nước, pháp luật về sở hữu trí tuệ được hình thành rất sớm, ở một số nước khác nó lại được hình thành muộn hơn nhưng nhìn chung pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ dù của nước này hay của nước khác thì đều phải thường xuyên được bổ sung để ngày một hoàn thiện hơn. Hiệu lực pháp luật của các văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ từng bước được nâng cao nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển của mỗi quốc gia trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.

Bên cạnh pháp luật riêng biệt của mỗi quốc gia quy định về quyền sở hữu trí tuệ còn có hệ thống các điều ước quốc tế về lĩnh vực sở hữu trí tuệ được hình thành. Đó là những quy định ngoại lệ đối với những quyền được công nhận lẫn nhau trong các hiệp định giũa các nước về quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể từ khi Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được công bố vào năm 1883, một số công ước, hiệp ước và thỏa ước quốc tế khác đã được ký kết nhằm mục đích hòa hợp hóa và thể chế hóa nguyên tắc có đi, có lại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Nội dung của các điều ước quốc tế về lĩnh vực sở hữu trí tuệ gồm các yếu tố cơ bản về tiêu chuẩn đối với việc bảo hộ từng loại quyền sở hữu trí tuệ. Các hệ thống đăng ký duy nhất có hiệu lực ở tất cả các nước thành viên và theo đó một phương pháp thống nhất được áp dụng để phân loại các yếu tố khác nhau của một loại quyền có thể được đăng ký. Ngoài sự hợp tác quốc tế trên phạm vi toàn thế giới còn là sự hợp tác khu vực trong lĩnh vực đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã dẫn đến việc thành lập các liên minh sở hữu trí tuệ khu vực và các cơ quan đăng ký khu vực. Tuy nhiên, sự liên minh của các trước trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không làm triệt tiêu những giới hạn khác nhau của nội dung pháp luật của mỗi quốc gia độc lập về lĩnh vực này. Một số trường phái luật học chủ yếu trên thế giới quy định về quyền sở hữu trí tuệ có sự khác nhau và được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây.

 

2. Quan điểm về kiểu dáng công nghiệp của WIPO  

Luật mẫu của WIPO (WIPO là một trong 16 cơ quan của Liên hợp quốc, có trụ sở tại Geneve, Thụy Sỹ, được thành lập năm 1967 và có trách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới thông qua việc thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, các tổ chức hiệp định khác được thành lập trên cơ sở các hiệp định đa phương và tạo ra các luật mẫu để các nước đang phát triển thông qua) quy định về kiểu dáng công nghiệp dùng cho các nước đang phát triển như:

"Kiểu dáng công nghiệp là bất kỳ kiểu dáng đường nét hoặc màu sắc của khối ba chiều tạo ra vẻ bề ngoài của sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp có thể dùng làm mẫu để sản xuất sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp".

Tất cả các nước đều có quy định chung. Kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ qua đăng ký. Cũng tương tự như sáng chế, nhiều nước đòi hỏi kiểu dáng công nghiệp phải có tính mới và phạm vi mà tính mới bị ảnh hưởng (quốc gia hay quốc tế). Tuy nhiên, tiêu chuẩn của tính mới cũng thay đổi hoặc theo tính mới trong nước hoặc theo tính mới thế giới (Việt Nam quy định kiểu dáng công nghiệp phải có tính mới đối với thế giới). Vấn đề khó khăn trong việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp là việc nó phải được phân biệt với kiểu dáng được bảo hộ trước đó để được coi là mới.

Một đặc điểm then chốt của khả năng áp dụng kiểu dáng công nghiệp vào sản xuất là nó có thể lặp lại với quy mô thương mại trong một quốc gia và nhiều quốc gia. Một số nước coi sản phẩm thủ công - mỹ nghệ không thuộc phạm vi được bảo hộ là kiểu dáng công nghiệp và quy định các sản phẩm thủ công - mỹ nghệ được bảo hộ theo Luật Quyền tác giả. Nhưng cũng thuộc lĩnh vực trên, ở một số nước pháp luật lại quy định một sản phẩm có thể được bảo hộ theo cả quyền tác giả và kiểu dáng công nghiệp. Kiểu dáng được bảo hộ là kiểu dáng công nghiệp nếu nó được thể hiện theo hình dáng riêng của một sản phẩm mà hình dáng của nó là mới hoặc nguyên gốc.

 

3. Quan điểm Australia, Hoa Kỳ về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp

Một kiểu dáng được bảo hộ là kiểu dáng công nghiệp theo luật của Australia thì nó phải có các đặc điểm về hình thù, sắp xếp hình thể, khuôn mẫu hay việc trang trí được áp dụng đối với một hàng hóa. Các đặc điểm trên của sản phẩm hàng hóa cuối cùng có thể được đánh giá bằng mắt nhưng không bao gồm phương pháp hay nguyên tắc xây dựng hoặc thiết lập nó.

Theo quy định như trên thì một kiểu dáng sản phẩm phải có các điều kiện:

-    Có thể áp dụng được đối với sản phẩm;

-    Nó phải được "đánh giá bằng mắt", do vậy các chức năng của một vật không được bảo hộ đồng thời với phương pháp làm ra vật đó. Quy định trên đã loại trừ các đặc điểm về hình dáng bên ngoài mà không thể nhận biết được quá trình sử dụng thông thường của sản phẩm;

-   Kiểu dáng đó phải có một sự khác biệt đáng kể giữa kiểu dáng của một người có đơn xin bảo hộ và các kiểu dáng đã được sử dụng hay công bố trước đó về tính mới và tính độc đáo;

-    Không có việc đăng ký hay sử dụng trước đó. Một kiểu dáng không được bảo hộ nếu nó đã được công bố hay sử dụng vào ngày trước khi nộp đơn xin đăng ký (Luật Việt Nam có quy định về quyền của người sử dụng trước các đối tượng sở hữu công nghiệp). Tuy nhiên, pháp luật của Australia cho phép "những sáng chế tương ứng" được bảo hộ nếu như chúng chưa được "áp dụng một cách công nghiệp" trước ngày một người nộp đơn xin bảo hộ (Theo Điều 17 của Luật Kiểu dáng, năm 1906).

Pháp luật về kiểu dáng công nghiệp của Australia quy định sự bảo hộ độc quyền (kiểu dáng công nghiệp) đã được đăng ký là sự độc quyền của chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp từ ngày ưu tiên, tức là ngày người đó nộp đơn. Sự độc quyền của chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp được thể hiện ở chỗ bất kỳ kiểu dáng nào "nhái lại một cách gian đối hay rõ ràng" kiểu dáng đã đăng ký thì đều bị coi là vi phạm. Quyền của chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp do pháp luật quy định là biện pháp ngăn chặn hữu hiệu hành vi của người khác sử dụng, nhập khẩu, bán, thuê sản phẩm có chứa đựng các yếu tố, chi tiết của kiểu dáng hay bắt chước kiểu dáng đó. Dẫu hiệu của sự bắt chước tuy không hoàn toàn giống với kiểu dáng đã được đăng ký nhưng là một bản sao chép lại một cách rõ ràng đối với mắt nhìn dù cho là có những khác biệt nhỏ. Sự bắt chước là một hành vi cố ý được thực hiện trên cơ sở có tính toán về kiểu dáng đã được đăng ký. Pháp luật của Australia phân biệt sự bắt chước một cách rõ ràng (hiển nhiên) và bắt chước một cách gian dối;

-    Đối với hành vi bắt chước một cách rõ ràng được hiểu là việc bắt chước một kiểu dáng về những chi tiết không giống tuyệt đối nhưng là một bản sao lại rõ ràng kiểu dáng của người khác đã được pháp luật bảo hộ mà một người bình thường cũng có thể nhận biết được bằng mắt thường;

-    Đối với hành vi bắt chước một cách gian dối được hiểu là sự bắt chước được thực hiện trên cơ sở có sự tính toán, có chủ định của người bắt chước kiểu dáng công nghiệp của người khác đã được đăng ký và kiểu dáng được tạo thành do bắt chước mà có được cũng dễ dàng nhận ra bằng mắt thường. Tuy rằng, sự gian dối của người cố ý bắt chước trong trường hợp này không có ý định ăn cắp tài sản của người có kiểu dáng công nghiệp được đăng ký.

Hành vi của người bắt chước tạo ra kiểu dáng công nghiệp thì kiểu dáng đó không được pháp luật của Australia và Hoa Kỳ bảo vệ.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vự sở hữu trí tuệ bạn có thể sử dụng: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật qua email hay Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162, hoặc có thể Đặt lịch để gặp luật sư tư vấn trực tiếp tại văn phòng. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng phục vụ bạn./.