BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

KHÓA 39

 

Bài 3: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa – so sánh với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bài làm :

MỞ ĐẦU

Trong những người tham gia tố tụng hình sự quy định tại chương 3 của Bộ luật tố tụng hình sự thì người bào chữa là người có vị trí, vai trò và chức năng đặc biệt. Tuy nhiên, cho đến nay trong lý luận pháp lý và thực tiễn tố tụng hình sự vẫn chưa có khái niệm chính thức và thống nhất về người bào chữa. Đồng thời, những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về phạm vi của người tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa còn giới hạn. Hơn nữa, xuất phát từ nhiều lý do khác nhau nên người bào chữa trong thực tiễn tố tụng hình sự hiện nay chủ yếu là luật sư, còn bào chữa viên nhân dân và người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chỉ tồn tại trong pháp luật thực định.

Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của người tham gia bào chữa trong tố tụng hình sự, trên cơ sở giáo trình, tài liệu tham khảo và kiến thức từ thầy cô, với bài tập lớn học kỳ môn Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, em xin chọn đề tài “ Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành và so sánh với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ’’.

NỘI DUNG CHÍNH

I/ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI BÀO CHỮA

Người bào chữa là người được các cơ quan tiến hành tố tụng chứng nhận, tham gia tố tụng để đưa ra những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Theo quy định tại khoản 1 điều 56 BLTTHS năm 2003, người bào chữa có thể là luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân.

Như vậy người bị tạm giam, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền lựa chọn, cử người bào chữa và chính họ mới là người có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa hay nói cách khác ngừơi bào chữa được tham gia vào tố tụng hình sự và có được các quyền và nghĩa vụ hay không là phụ thuộc vào ý chí của người có quyền bào chữa. Để đảm bảo sự vô tư, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, khoản 2 điều 56 của BLTTHS năm 2003 quy định những người sau không được bào chữa: Người đã tiến hành tố tụng trọng vụ án đó, người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch.
 

II/ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

1. Quyền của người bào chữa

Trong bộ luật này có những quy định về người bào chữa được kế thừa và pháp huy những giá trị pháp luật tố tụng truyền thống của nước ta trên cơ sở nghiên cứu chọn lọc và đúc rút kinh nghiệm trong pháp luật tố tụng của một số nước khác. Chính vì vậy mà BLTTHS năm 2003 tại điều 58 quy định rõ ràng, đầy đủ, quyền và trách nhiệm của người bào chữa, nâng cao trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử. Sau đây là những quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong BLTTHS năm 2003:

Thứ nhất, về thời điểm bào chữa, Khoản 1 điều 58 BLTTHS năm  2003 quy định: Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt người theo quy định tại điều 81 và điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra’’

Như vậy, BLTTHS hiện hành quy định thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng ngay từ khi có quyết định tạm giữ đã tránh sự lạm quyền từ phía cơ quan điều tra, bắt giam, tạm giữ không cần thiết và giúp cho người bào chữa được tiếp xúc với vụ án ngay từ đầu, sẽ thuận lợi cho người bào chữa  trong việc thu thập chứng cứ gỡ tội và những tình tiết giảm nhẹ cho bị can, để có thể bào chữa cho bị can ở gian đoạn sau của quá trình TTHS

Thứ hai, là quyền của ngừoi bào chữa khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, điểm a khoản 2 điều 58 BLTTHS hiện hành quy định ‘’ người bào chữa được quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can; xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng lien quan  đến người mà mình bào chữa’’

Việc người bào chữa được quyền có mặt trong các hoạt động điều tra có ý nghĩa quan trọng. Khi có măt người bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ ổn định về mặt tâm lý hơn, những người tiến hành các hoạt động điều tra thận trọng, tuân thủ pháp luật hơn. Người bào chữa theo dõi được quá trình điều tra và tình hình chứng cứ điều đó có ý nghĩa rất lớn cho việc chuẩn bị lời bào chữa và tham gia tranh tụng của họ sau này tại phiên tòa, Người bào chữa còn có quyền hỏi người bị tạm giữ, bị can khi điều tra viên đồng ý để làm sang tỏ những tình tiết có lợi cho người bị tạm giữ bị can. Khi tham gia các hoạt động điều tra, xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa, nếu phát hiện những vi phạm pháp luật, người bào chữa có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền.

Thứ ba, đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can.

Pháp luật quy định địa điểm, thời gian hỏi cung do Cơ quan điều tra quyết định. Tuy nhiên người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, hỏi cung bị can. Nên nếu không được thông báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung thì người bào chữa không thể thực hiện được quyền này do không chủ động trong việc chuẩn bị và sắp xếp để có mặt khi Cơ quan điều tra hỏi cung bị can. Do đó người bào chữa có quyền đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can là hợp lí.

Cụ thể theo Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 70/2011/TT – BCA quy định: “Điều tra viên phải thông báo về thời gian, địa điểm lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can cho người bào chữa trước 24 giờ, trường hợp người bào chữa ở xa có thể thông báo trước 48 giờ, trường hợp không thể trì hoãn được việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can thì Điều tra viên lấy lời khai, hỏi cung và sau đó phải thông báo cho người bào chữa biết”.

Thứ tư, đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của BLTTHS hiện hành

Người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ theo luật định và xét thấy việc những người này tiến hành hoặc tham gia tố tụng có thể làm ảnh hưởng không tốt đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngừời mà mình bào chữa.

Thứ năm, thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ những người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác.

Điều này giúp người bào chữa có thể tìm ra những tình tiết mới có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Người bào chữa có thể tự mình tiến hành việc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết khác liên quan đến vụ án vào bất kì thời điểm nào của quá trình tố tụng, ở bất cứ nguồn nào mà pháp luật không cấm. Quy định này cũng đã thể hiện tinh thần dân chủ trong chính sách pháp luật của nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa được thực hiện tốt quyền bào chữa của mình.

Thứ sáu, đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu:

Người bào chữa có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật yêu cầu theo hướng có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, Người bào chữa cũng có quyền đưa ra yêu cầu như triệu tập thêm người làm chứng, trưng cầu giám định nếu xét thấy điều đó là cần thiết và có lợi cho người bào chữa. Cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của người bào chữa.

Thứ bảy, gặp người bị tạm giữ, gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam:

Người bào chữa phải thường xuyên gặp gỡ, trao đổi, tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để có thể nắm được đầy đủ các tình tiết của vụ án, các đặc điểm nhân thân và diễn biến tâm lý, tâm tư, nguyện vọng của người được bào chữa. Trên cơ sở đó, người bào chữa mới thu thập được những tình tiết gỡ tội, giảm nhẹ tội để bào chữa cho những người này. Qua gặp gỡ , trao đổi, người bào chữa giải thích những vấn đề về pháp luật và cũng có thể tác động đến người bị tạm giữ, bị can, bị cáo làm cho họ có thái độ khai báo tốt hơn để có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Thứ tám, đọc, ghi chép và sao chụp những tại liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;

Qua việc đọc và ghi chép hồ sơ vụ án, người bao chữa nắm được nội dung của vụ án, nắm được những chứng cứ buộc tội cũng như gỡ tội đối với người được bào chữa, trên cơ sở đó người bào chữa chuẩn bị cho việc bào chữa, tham gia tranh tụng tại phiên tòa.

Qua việc đọc hồ sơ, tài liệu của vụ án, người bào chữa cũng có điều kiện để phát hiện những sai lầm, thiếu sót, vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra trên cơ sở đó đưa ra những yêu cầu, khiếu nại cần thiết đối với cơ quan có thẩm quyền…

Thứ chín, tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa

Tại phiên tòa xét xử vài trò của người bào chữa được thể hiện rõ nét nhất. Người bào chữa có quyền hỏi bị cáo và những người khác về những vấn đề của vụ án để có được những câu trả lời theo hướng có lợi cho bị cáo. Khi tranh luận, người bào chữa phải phân tích, lập luận, đưa ra những lí lẽ để bảo vệ bị cáo và bác bỏ những lời buộc tội bị cáo.

Thứ mười, khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Quyền này được quy định tại Điềm i Khoản 2 Điều 58 BLTTHS và được thực hiện nếu có căn cứ cho rằng trong quá trình tiến hành tố tụng, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng  là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Cuối cùng, kháng cáo bản án, quyết định của tòa án nếu bị cáo là những người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần, hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 điều 57 của bộ luật này.

Đây là quyền độc lập của người bào chữa, người bào chữa kháng cáo không phụ thuộc vào ý chí của bị cáo cũng như đại diện hợp pháp của bị cáo. Kháng cáo của người bào chữa phải tuân theo hướng có lợi cho bị cáo.

2. Nghĩa vụ của người bào chữa

Cùng với việc quy định về quyền của ngừơi bào chữa, nghĩa vụ của người bào chữa cũng được quy định tạ khoản 3 khoản 4 của điều 58 BLTTHS hiện hành, theo đó người bào chữa có các nghĩa vụ sau :

Thứ nhất, sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, người bào chữa có trách nhiệm giao cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án những đồ vật tài liệu liên quan đến vụ án. Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập thành biên bản theo quy định của BLTTHS

Thứ hai, giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Thứ ba, không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng.

Có thể nói khi đã được mời hoặc yêu cầu bào chữa cho bị can, bị cáo, thì giữa người bào chữa và bị can, bị cáo đã hình thành một mối quan hệ tương đối khăng khít, vì vậy người bào chữa phải có trách nhiệm đối với bị can, bị cáo cho đến khi mà họ không có yêu cầu nữa, nếu như giữa họ có hợp đồng thuê người bào chữa thì người bào chữa có trách nhiệm thực hiện hợp đồng đến khi hoàn thành công việc theo hợp đồng thì thôi.

Thứ tư, tôn trọng sự thật và pháp luật, không được mua chuộc cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối cung cấp tài liệu sai sự thật

Người bào chữa tham gia bào chữa cho than chủ của mình nhưng phải có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật, tôn trọng sự thật, tránh trường hợp người bào chữa chỉ có mục đích duy nhất là bảo vệ cho thân chủ của họ, để làm nhẹ tội cho thân chủ nên tìm mọi biện pháp kể cả hợp pháp và không hợp pháp như mua chuộc người làm chứng, tạo chứng cứ giả, xúi giục người khác khai bào gian dối có lợi cho thân chủ của mình mà không chú ý tới việc bảo vệ pháp chế, và nếu người bào chữa sử dụng biện pháp đúng luật thì không sao, nếu vượt qua thì phải chịu trách nhiệm.

Thứ năm, có mặt theo giấy triệu tập của tòa án.

Một khi đã nhận tham gia phiên tòa của mình vừa là trách nhiệm vừa là quyền để qua đó mình thể hiện khả năng kiến thức chuyên môn của mình, đồng thời chứng tỏ vai trò của người bào chữa trong việc bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo. Tránh tình trạng trong một số trường hợp tòa án cứ phải hoãn phiên tòa do vắng mặt của người baò chữa theo quy định tại khoản 2 điều 190 BLTTHS 2003. Hơn nữa, quy định về quyền này của người bào chữa cũng giúp đảm bảo hơn quyền của bị cáo, bị can. Nếu người bào chữa không đến giữ phiên tòa mà chỉ gửi bản bào chữa dựa trên những chứng cứ của hồ sơ vụ án thì hiệu quả công việc bào chữa sẽ không cao.

Thứ sáu, không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa, không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền , lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Người bào chữa làm trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
 

III/ SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM  2015

Để người bào chữa thực hiện tốt việc bào chữa, gỡ tội, BLTTHS năm 2015 bổ sung một số quyền của người bào chữa, gồm 3 nhóm:

(1) Quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, khi cơ quan tiến hành tố tụng kê biên tài sản, khám người, khám chỗ ở, chỗ làm việc và một số hoạt động điều tra khác;

(2) Quyền đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, tiến hành một số hoạt động tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người mà mình bào chữa, đề nghị triệu tập người làm chứng;

(3) Quyền thu thập, đưa ra chứng cứ.

Cụ thể tại Điều 73

a) Gặp, hỏi người bị buộc tội; Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, bị tạm giữ, bị can; Có mặt trong những hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;

–  Luật bổ sung các cơ chế để người bào chữa thực hiện tốt việc bào chữa như: Quy định trách nhiệm của các cơ quan tố tụng phải thông báo ( Điều 80) trước cho người bào chữa thời gian và địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia; Quy định cụ thể thủ tục gặp người bị buộc tội đang bị bắt, tạm giữ, tạm giam, thủ tục giao nộp chứng cứ, thủ tục đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án. Theo đó Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

– Đồng thời với việc bổ sung quyền của người bào chữa, nhằm tăng cường trách nhiệm của người bào chữa, Dự thảo bổ sung nghĩa vụ của người bào chữa phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; không được tiết lộ thông tin mà mình biết được khi tham gia các hoạt động tố tụng liên quan đến vụ án hoặc liên quan đến người mà mình bào chữa cho những người không có trách nhiệm giải quyết vụ án Vấn đề xác lập quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa là một trong những nội dung cốt lõi trong kiến nghị sửa đổi, bổ sung BLTTHS lần này của LĐLSVN. Khi bổ sung quy định về quyền thu thập chứng cứ của Luật sư theo hướng nêu trên, BLTTHS cũng cần phải quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ của người bào chữa cũng như cơ chế kiểm tra, giám sát của cơ quan tiến hành tố tụng đối với từng hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư để tránh việc Luật sư lạm dụng quyền thu thập chứng cứ nhằm tác động không tốt đến tâm lý khai báo của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc làm cản trở quá trình giải quyết vụ án hình sự.Cơ sở của đề nghị này nhằm đảm bảo hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa hướng đến mục đích làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm hỗ trợ, tiếp nhận và lập biên bản ghi nhận việc giao nộp chứng cứ, tài liệu, đồ vật do người bào chữa thu thập được vào hồ sơ vụ án để xem xét, đánh giá và sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án.

KẾT LUẬN

Sự tham gia tố tụng của người bào chữa là rất cần thiết, bằng kinh nghiệm nghề nghiệp và sự hiểu biết của mình, người bào chữa tham gia và quá trình giải quyết vụ án để giúp bảo vệ lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Qua đó sự tham gia của người bào chữa cũng góp phần vào việc xác định sự thật của vụ án được đúng đắn, không để bị can, bị cáo bị buộc tội oan, sai.

Từ các phân tích trên, nhận thấy BLTTHS 2015 đã mở rộng quyền của người bào chữa nhưng những quy định đảm bảo cho các quyền ấy được thực hiện trên thực tế vẫn chỉ là lý thuyết nên việc bổ sung và hoàn thiện các quy định của BLTTHS 2003 là một yêu cầu tất yếu, bởi người bào chữa có vai trò quan trọng trong tố tụng hình sự, họ là một mắt xích quan trọng trong cơ chế giám sát hoạt động tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng, là người giúp cho chế độ dân chủ trong một xã hội văn minh, tiến bộ được thực thi, giúp quyền con người được tôn trọng, góp phần xây dựng thành công nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Trên đây là toàn bộ nội dung chính trong bài tập lớn học kỳ của em với đề tài : “Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự và so sánh với quy định của BLTTHS 2015” của em. Vì khuôn khổ bài tập học kỳ có hạn chế có thể bài làm của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý từ các thầy, các cô để bài làm được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn !

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.       Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam năm 2003, 2015.

2.       Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội, NXB. CAND, Hà Nội

3.       Tham luận quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong Luật tố tụng hình sự - Luật sư Nguyễn Văn Chiến (Phó chủ nhiệm đoàn luật sư thành phố Hà Nội).