1. Hợp đồng xây dựng là gì?

Hợp đồng xây dựng là sự thỏa thuận của các bên bằng văn bản và phù hợp với đặc trưng của hoạt động xây dựng, ý chí của nhà nước, lợi ích công cộng và đảm bảo được trật tự xã hội nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt việc thực hiện các công việc trong lĩnh vực xây dựng. Trong một số trường hợp, hợp đồng xây dựng được thiết lập để thực hiện các dự án có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước thì tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn ngân sách nhà nước cũng sẽ phải được đảm bảo.

2. Chủ thể hợp đồng xây dựng là gì?

Hợp đồng xây dựng được thiết lập giữa bên có nhu cầu xây dựng (bên giao thầu) và bên thực hiện hoạt động xây dựng (bên nhận thầu). Bên giao thầu là bên sở hữu nguồn vốn có nhu cầu xây dựng, thiết kế, thi công, lắp đặt ... một công trình nhất định, bên nhận thầu sẽ nhận thực hiện các công việc theo yêu cầu của bên giao thầu để nhận lại lợi ích kinh tế tương ứng. Bên giao thầu bao gồm chủ đầu tư hoặc tổng thầu hoặc nhà thầu chính hoặc trong một số trường hợp có thể là đại diện của chủ đầu tư tùy vào tính chất của dự án. Trường hợp bên giao thầu là chủ đầu tư thì bên nhận thầu là nhà thầu chính hoặc tổng thầu.

Tùy thuộc vào nguồn vốn của các dự án đầu tư mà chủ thể của hợp đồng có thể khác nhau. Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, bên giao thầu bắt buộc phải là Nhà nước được đại diện bởi các cơ quan, tổ chức của nhà nước. CÒn đối với các dự án thương mại thông thường, chủ đầu tư có thể là cá nhân, tổ chức, là thương nhân hoặc không phải là thương nhân.

Bên nhận thầu là đơn vị có đầy đủ năng lực để xây dựng công trình cho bên giao thầu. Họ sẽ ký hợp đồng với bên giao thầu để thực hiện các công việc, dự án liên quan đến công trình ấy.

3. Quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng

3.1. Nguyên tắc chung

Theo quy định tại Điều 45 Nghị định 37/2015/NĐ-CP, việc giải quyết các tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng xây dựng phải tuân thủ nguyên tắc và trình tự giải quyết tranh chấp được quy định tại khoản 8 Điều 146 Luật Xây dựng năm 2014. Theo đó, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng phải tuân theo nguyên tắc và trình tự giải quyết tranh chấp như sau:

- Các bên phải tôn trọng các thỏa thuận hợp đồng và các cam kết trong quá trình thực hiện hợp đồng, bảo đảm bình đẳng và hợp tác;

- Các bên hợp đồng có trách nhiệm tự thương lượng giải quyết tranh chấp. Trường hợp các bên hợp đồng không tự thương lượng được thì tranh chấp được giải quyết thông qua hòa giải, trọng tài thương mại hoặc Tòa án theo quy định của pháp luật.

3.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng

Ban xử lý tranh chấp

Hợp đồng xây dựng là một hợp đồng đặc biệt, do đó, phương thức giải quyết tranh chấp sẽ được các bên thỏa thuận và quy định trong hợp đồng. Khi xảy ra tranh chấp, các bên sẽ tiến hành thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại hoặc Tòa án.

Cùng với ảnh hưởng và sự du nhập của các mẫu hợp đồng được thừa nhận trên thế giới, pháp luật Việt Nam cũng đã có quy định về phương thức giải quyết tranh chấp thông qua Ban giải quyết tranh chấp. Cơ chế giải quyết tranh chấp này được quy định cụ thể tại Nghị định 37/2015/NĐ-CP mặc dù vấn đề này trước đây đã không được Nghị định 48/2010/NĐ-CP, Thông tư 09/2011/TT-BXD giới thiệu đầy đủ. Ban giải quyết tranh chấp này có thể là cơ quan, tổ chức hoặc một số cá nhân là chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng. Việc xử lý tranh chấp hợp đồng thông qua ban xử lý tranh chấp được quy định tại khoản 2 Điều 46 Nghị định 37/2015/NĐ-CP. Cụ thể:

- Ban xử lý tranh chấp có thể được nêu trong hợp đồng tại thời điểm ký kết hoặc thiết lập sau khi có tranh chấp xảy ra. Số lượng thành viên ban xử lý tranh chấp do các bên tự thỏa thuận. Thành viên ban xử lý tranh chấp phải là người có trình độ chuyên môn phù hợp với nội dung tranh chấp, kinh nghiệm trong vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng và hiểu biết về các quy định pháp luật liên quan đến hợp đồng xây dựng.

- Trong thời hạn 28 ngày kể từ ngày các bên nhận được kết luận hòa giải của ban xử lý tranh chấp, nếu một bên không đồng ý kết luận hòa giải của ban xử lý tranh chấp thì có quyền phản đối và các tranh chấp này sẽ được giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định của pháp luật; trường hợp quá thời hạn nêu trên không bên nào phản đối kết luận hòa giải thì coi như các bên đã thống nhất với kết luận hòa giải. Khi đó, các bên phải thực hiện theo kết luận hòa giải.

- Chi phí cho ban xử lý tranh chấp được tính trong giá hợp đồng xây dựng và do mỗi bên hợp đồng chịu một nửa, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Như vậy, việc giải quyết tranh chấp thông qua Ban giải quyết tranh chấp sẽ được các bên thỏa thuận tại thời điểm ký kết hợp đồng hoặc sau khi tranh chấp xảy ra. Số lượng thành viên của Ban giải quyết tranh chấp sẽ căn cứ vào quy mô dự án và sự thảo luận của các bên trong hợp đồng và các thành viên này phải là những người này vừa phải có trình độ chuyên môn phù hợp với nội dung tranh chấp, hiểu biết các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực hợp đồng xây dựng lại vừa cần có kinh nghiệm trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng. Quyết định của Ban xử lý tranh chấp là quyết định mang tính chung thẩm, điều này có nghĩa quyết định của ban xử lý tranh chấp là quyết định cuối cùng trừ khi các bên không đồng ý và đưa tranh chấp ra giải quyết tại tòa án hoặc trọng tài. Quyết định của ban giải quyết tranh chấp sẽ có giá trị ràng buộc đối với các bên ngay lập tức cho đến khi nó được phân xử bằng trọng tài hay tòa án.

Trường hợp các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua tòa án hoặc trọng tài thì sẽ áp dụng quy định có liên quan tại Bộ luật dân sự 2015, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Luật trọng tài thương mại 2010 về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp.

Phương thức trọng tài

Nếu các ben trong hợp đồng lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua phương thức trọng tài thì sẽ thực hiện theo trình tự sau:

- Nộp đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo với các nội dung như: ngày, tháng, năm, tên, địa chỉ; tóm tắt nội dung tranh chấp, .... kèm theo đơn khởi kiện phải có thỏa thuận trọng tài, bản chính hoặc bản sau các tài liệu có liên quan (Điều 30 Luật trọng tài thương mại 2010)

- Bị đơn nộp bản tự bảo vệ trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo. Bị đơn có quyền kiện lại nguyên đơn về những vấn đề có liên quan đến vụ tranh chấp. Đơn kiện lại của bị đơn phải được gửi cho Trung tâm trọng tài. Trong trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, đơn kiện lại phải gửi cho Hội đồng trọng tài và nguyên đơn. Đơn kiện lại phải được nộp cùng thời điểm nộp bản tự bảo vệ (Điều 35, 36)

- Thành lập hội đồng trọng tài bao gồm một hoặc nhiều trọng tài viên, nếu các bên không thỏa thuận thì gồm ba trọng tài viên. Tùy vào tính chất của tranh chấp mà các bên thỏa thuận thành lập Hội đồng trọng tài tại trung tâm trọng tài hoặc thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc để giải quyết tranh chấp. Trình tự thành lập trọng tài được quy định tại Điều 40. 41 Luật trọng tài thương mại 2010.

Trong trường hợp các bên có thể tự thỏa thuận được với nhau chấm dứt việc giải quyết tranh chấp thì có quyền yêu cầu Chủ tịch Trung tâ, trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 38 Luật trọng tài thương mại 2010, nếu các bên khoogn thỏa thuận được thì một Hội đồng trọng tài được thành lập để giải quyết tranh chấp theo quy định.

- Tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp

- Hội đồng trọng tài ban hành phán quyết theo nguyên tắc đa số

Giải quyết tại Tòa án

Trường hợp tranh chấp được giải quyết tại tòa án sẽ thực hiện theo các bước sau:

- Đương sự nộp Đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết tranh chấp. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo thì người khởi kiện phải làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí (Ddieuf 189, 190 Bộ luật tố tụng dân sự 2015)

-  Tòa án sẽ tiến hành xem xét Đơn khởi kiện, nếu đáp ứng đủ các điều kiện thì sẽ được Tòa án thụ lý.

- Vụ án bước vào giai đoạn chuẩn bị xét xử và hòa giải. Tại giai đoạn này Tòa án sẽ mở phiên họp kiểm tra, giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải. Mục đích là để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về hướng giải quyết vụ án và cung cấp chứn cứ cho các bên đương sự.

- Cuối cùng Tòa án nhân dân sẽ ban hành quyết dịnh đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục chung.

Đặc biệt khi tiến hành khởi kiện theo thủ tục trọng tài hoặc tòa án, các bên trong hợp đồng phải lưu ts tới thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp hợp đồng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 45 Nghị định 37/2015/NĐ-CP thì : "Thời hiệu khởi kiện theo thủ tục Trọng tài hoặc thời hiệu khởi kiện lên Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng được thực hiện theo quy định có liên quan của pháp luật". Chiếu theo quy định tại khoản 1 Điều 84 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Điều 429 Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Bên cạnh đó, đối với các tranh chấp trong hợp đồng xây dựng theo hình thức đối tác công tư, Điều 97 Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư 2020 quy định về phương thức giải quyết tranh chấp như sau:

"1. Tranh chấp giữa cơ quan có thẩm quyền, cơ quan ký kết hợp đồng với nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp dự án PPP và tranh chấp giữa doanh nghiệp dự án PPP với các tổ chức kinh tế tham gia trực tiếp dự án được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa án.

2. Tranh chấp giữa cơ quan có thẩm quyền, cơ quan ký kết hợp đồng với nhà đầu tư trong nước hoặc doanh nghiệp dự án PPP do nhà đầu tư trong nước thành lập; tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước hoặc doanh nghiệp dự án PPP do nhà đầu tư trong nước thành lập với các tổ chức kinh tế Việt Nam được giải quyết tại Trọng tài Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam.

....

4. Tranh chấp giữa các nhàu đầu tư trong đó có ít nhất một nhà đầu tư nước ngoài; tranh chấp giữa nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp dự án PPP với tổ chức, cá nhân nước ngoài được giải quyết tại một trong các cơ quan, tổ chức sau đây:

a) Trọng tài Việt Nam;

b) Tòa án Việt Nam;

c) Trọng tài nước ngoài;

d) Trọng tài quốc tế;

đ) Trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập."