1. Giới hạn xét xử là gì?
Cho đến nay, trong các văn bản pháp luật TTHS ở nước ta đều không đưa ra khái niệm “giới hạn xét xử” mà chỉ liệt kê những việc mà Tòa án được làm trong từng giai đoạn tố tụng và được thể hiện dưới các thuật ngữ như “giới hạn xét xử sơ thẩm”, “phạm vi xét xử phúc thẩm”, “phạm vi giám đốc thẩm”.
Pháp luật TTHS quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát (VKS), Tòa án trong TTHS; các nguyên tắc cơ bản của TTHS; mối quan hệ giữa các giai đoạn trong TTHS; mối quan hệ giữa phạm vi xét xử sơ thẩm và giới hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm; vai trò của Tòa án trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm; nhu cầu cần giải quyết những ý kiến chưa thống nhất giữa VKS và Tòa án; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo.
2. Giới hạn xét xử trong BLTTHS 1988
Ở góc độ luật thực định, trước khi có Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988, vấn đề giới hạn xét xử được quy định tại Thông tư số 16-TATC ngày 27/9/1974 của TAND tối cao hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, theo đó, khi giải quyết các vấn đề về tội danh và điều luật áp dụng mà Tòa án có ý kiến khác với ý kiến của VKS thì bắt buộc Tòa án phải họp trù bị với VKS cùng cấp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý. Tại phiên họp, nếu VKS nhất trí với Tòa án thì trả hồ sơ điều tra bổ sung để thay đổi cáo trạng. Trường hợp Tòa án không nhất trí với VKS về thay đổi cáo trạng thì Tòa án vẫn phải đưa vụ án ra xét xử nhưng trong quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án phải ghi tội danh mà VKS truy tố và tội danh mà bị cáo có thể bị xét xử. Việc đưa vụ án xét xử mà giữa Tòa án và VKS không thống nhất về tội danh thì giao cho Hội đồng xét xử căn cứ vào tình hình thực tế tại phiên tòa, để quyết định. Như vậy, Thông tư này đã xác định vai trò độc lập xét xử của Tòa án cho phép Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả thẩm vấn, tranh tụng tại phiên tòa để quyết định tội danh của bị cáo mà không phụ thuộc vào cáo trạng truy tố của VKS.
Sau thời gian dài thực hiện Thông tư nói trên thì lần đầu tiên vấn đề giới hạn xét xử được quy định tại Điều 170 BLTTHS năm 1988 như sau: Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử. Như vậy, Tòa án không xét xử những người những hành vi chưa được VKS truy tố và không được xử tội khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy Điều 170 không hạn chế Tòa án áp dụng khung hình phạt nặng hơn VKS đã truy tố, nhưng nếu Tòa án muốn xét xử khung hình phạt nặng hơn thì trước khi mở phiên toà phải trao đổi với VKS theo hướng dẫn tại mục II Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 08/12/1988 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng thời tuân thủ thực hiện các quy định về thẩm quyền mà Thông tư đã hướng dẫn. Quy định này đã làm hạn chế nguyên tắc xét xử độc lập và xét xử đúng người, đúng tội, vì vậy, đã có nhiều ý kiến kiến nghị từ phía Tòa án các cấp đề nghị sửa đổi.
3. Giới hạn xét xử trong BLTTHS 2003
Trên cơ sở tiếp thu kiến nghị và tổng kết thực tiễn, đến BLTTHS năm 2003 thì Điều 170 BLTHS năm 1988 được sửa thành Điều 196 có bổ sung: Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.
Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Với quy định bổ sung trên cho thấy giới hạn xét xử đã được mở rộng hơn, tuy nhiên, Tòa án cũng chỉ xét xử theo tội danh mà VKS truy tố và chỉ được phép xử tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS truy tố. Đây là hạn chế của điều luật làm cho việc định tội đôi khi không đúng với hành vi của bị cáo, làm giảm hiệu lực của việc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Ví dụ như cùng hành vi dùng hung khí đánh người gây thương tích, VKS truy tố Tội cố ý gây thương tích, nhưng trong quá trình xét xử Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ kết Tội giết người, nếu vụ án đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng VKS không thay đổi tội danh thì Hội đồng xét xử vẫn phải xử bị cáo theo Tội cố ý gây thương tích, rồi thực hiện việc kiến nghị lên cấp trên.
4. Giới hạn xét xử trong BLTTHS 2015
Để bảo đảm sự độc lập của Tòa án trong xét xử, bảo đảm phán quyết của Tòa án phải trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh tụng và những chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được bổ sung quy định về giới hạn của việc xét xử trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó nhưng quá trình xét xử phải bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo và tuân thủ các quy định khác của Bộ luật (Điều 298).
Điều 298. Giới hạn của việc xét xử
1. Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2. Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
3. Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó
5. Phân tích giới hạn của việc xét xử
So với Điều 196 BLTTHS năm 2003 thì Điều 298 BLTTHS năm 2015 bổ sung khoản 3. Quy định mới đã mở rộng phạm vi xét xử cho phép Tòa án được xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn so với tội danh mà VKS truy tố. Tuy nhiên, để Tòa án xét xử về tội danh nặng hơn so với tội danh mà VKS đã truy tố thì Tòa án phải trả hồ sơ để VKS truy tố lại, nếu VKS vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn. Với quy định mới nêu trên, vấn đề đặt ra là Tòa án sơ thẩm có quyền thay đổi nội dung truy tố của VKS hay không?
Có nhiều quan điểm về vấn đề này.
Quan điểm thứ nhất, phủ nhận sự cần thiết của chế định giới hạn xét xử hoặc nếu quy định thì cần phải thay đổi nội dung của giới hạn xét xử theo hướng thừa nhận Tòa án có quyền trên cơ sở xem xét, điều tra các chứng cứ tại phiên tòa quyết định tội danh của bị cáo không phụ thuộc vào tội danh mà VKS truy tố kể cả tội danh nặng hơn (làm xấu tình trạng bị cáo).
Quan điểm thứ hai cho rằng, bản chất của chế định giới hạn xét xử sơ thẩm là mối quan hệ pháp lý giữa chức năng buộc tội và chức năng xét xử trong TTHS. Mối quan hệ giữa hai chức năng này không thể không ảnh hưởng đến chức năng bào chữa vì các chức năng cơ bản của TTHS tồn tại không tách rời nhau. Cơ sở lý luận của mối quan hệ này trước hết là lý luận về các chức năng cơ bản của TTHS, theo đó, các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử độc lập với nhau, quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau do các chủ thể khác nhau thực hiện.
Vấn đề mấu chốt là phải giải quyết mối quan hệ giữa chức năng buộc tội và chức năng xét xử, đồng thời, phải có giải pháp bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo đó là quyền hiến định. Về mặt lý luận thì Tòa án chỉ thực hiện chức năng xét xử, khi thực hiện chức năng xét xử, phải có trách nhiệm làm sáng tỏ tất cả các tình tiết của vụ án (bao gồm cả các tình tiết buộc tội, các tình tiết gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo) nhưng không phải để buộc tội hay bào chữa đối với bị cáo mà nhằm thực hiện chức năng xét xử - xác định sự thật khách quan và ra quyết định đúng đắn về vụ án. Tòa án phải tôn trọng và tạo mọi điều kiện để bị cáo thực hiện quyền tố tụng của mình một cách tốt nhất, không được vi phạm. Vì vậy, để giải quyết vấn đề nêu trên, theo tác giả thì Tòa án chỉ tập trung xét xử hành vi mà bị cáo đã thực hiện và VKS đã truy tố, không phụ thuộc vào tội danh mà VKS đề nghị. Việc xác định bị cáo phạm tội gì, hình phạt như thế nào là do Tòa án quyết định và phải nêu rõ trong quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Để bảo đảm quyền bào chữa và thời gian chuẩn bị bào chữa tốt nhất theo tác giả thì trong quá trình chuẩn bị xét xử, nếu xét thấy phải xét xử tội danh khác nặng hơn thì Thẩm phán nên tổ chức phiên họp “trù bị” hoặc “phiên tòa sơ bộ” với sự có mặt của Kiểm sát viên, của người bào chữa và những người tham gia tụng khác nhằm kiểm tra lại toàn bộ hành vi và hậu quả mà bị cáo đã thực hiện, kiểm tra lại toàn bộ chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, điều tra bổ sung theo quyết định trả hồ sơ của Tòa án… Trên cơ sở đó, Thẩm phán quyết định đưa ra xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nào, có thể giống hoặc khác tội danh mà VKS đề nghị truy tố. Phiên họp “trù bị” hoặc “phiên tòa sơ bộ” sẽ góp phần khắc phục giải quyết được bất cập về giới hạn xét xử theo quy định tại khoản 3 Điều 298 BLTTHS năm 2015 khi phải xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội danh mà VKS truy tố, qua phiên họp “trù bị” hoặc “phiên tòa sơ bộ” bị cáo, người bào chữa biết được quan điểm của Toà án và có ý kiến về tội danh mà Toà án sắp đưa ra xét xử từ đó có đầy đủ thời gian chuẩn bị cho việc bào chữa. Đồng thời góp phần đảm bảo cho việc xét xử đúng người đúng tội, kéo giảm tỷ lệ án huỷ, tránh tình trạng sau xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo kêu oan, đảm bảo công bằng và chính xác khi xét xử.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)