Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Doanh nghiệp của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi:  1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Luật Doanh nghiệp 2020

Nghị định 122/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt VPHC lĩnh vực kế hoạch và đầu tưNghị định 122/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt VPHC lĩnh vực kế hoạch và đầu tư

2. Luật sư tư vấn:

1. Khái niệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Theo Khoản 1 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định:

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (NDDTPL) là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Theo đó có thể thấy:

- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhất thiết phải là một cá nhân;
- Người đại diện theo pháp luật đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch của doanh nghiệp;
- Người đại diện theo pháp luật là người đại diện cho doanh nghiệp trong tố tụng tại Tòa án và trước Trọng tài. 

2. Người đại diện theo pháp luật của từng loại hình doanh nghiệp

2.1 Doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh

Theo quy định tại khoản 3 điều 190 luật doanh nghiệp năm 2020 thì chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Đối với hộ kinh doanh, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP , chủ hộ kinh doanh là người đại diện theo pháp luật của hộ kinh doanh

2.2 Công ty TNHH

Công ty TNHH có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật.

Đối với công ty TNHH MTV, công ty phải có ít nhất một người đại diện theo pháp luật là người giữ một trong các chức danh là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, cụ thể được quy định trong điều lệ công ty. Theo khoản 3 điều 79 Luật doanh nghiệp năm 2020, đối với công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sở hữu, nếu điều lệ công ty không quy định, thì Chủ tịch hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty là người đại diện theo pháp luật của công ty

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, theo quy định tại Khoản 3 Điều 54 Luật Doanh nghiệp 2020, Công ty TNHH Hai thành viên phải có ít nhất một người đại diện theo pháp luật là người giữ một trong các chức danh là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch Hội đồng thành viên là người đại diện theo pháp luật của công ty.

 

2.3 Công ty hợp danh

Theo quy định tại khoản 1 Điều 184 Luật doanh nghiệp năm 2020, các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật. Như vậy, đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh là tất cả các thành viên hợp danh của công ty. Họ được pháp luật quy định quyền đối nhân trong công ty hợp danh để tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh.

2.4 Công ty cổ phần

Tương tự hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần cũng phải ghi nhận người đại diện trong Điều lệ và có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật.

Theo quy định tại khoản 2 điều 137 Luật doanh nghiêp năm 2020:

2. Trường hợp công ty chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp Điều lệ chưa có quy định thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp công ty có hơn một người đại diện theo pháp luật thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty.

3. Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp 

Theo quy định tại Điều 13, Luật Doanh nghiệp 2020, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có trách nhiệm sau đây:

-Thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;
- Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
- Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về doanh nghiệp mà mình, người có liên quan của mình làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp theo quy định của Luật này.
- Chịu trách nhiệm các nhân đối với những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm các nghĩa vụ của mình
Trong trường hợp có nhiều người đại diện theo pháp luật thì theo khoản 2 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: 
“...nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật. Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Trong trường hợp công ty gây thiệt hại cho một bên thứ ba thì về nguyên tắc phải bồi thường cho bên này dù là trách nhiệm trong hay ngoài hợp đồng. Như vậy, nếu người đại diện theo pháp luật vi phạm một hay nhiều nghĩa vụ chung của mình mà pháp luật đã quy định và gây thiệt hại cho bên thứ ba thì sau khi công ty đã bồi thường cho bên thứ ba này thì có thể khởi kiện yêu cầu người đại diện theo pháp luật hoàn trả số tiền bồi thường đã trả cho bên thứ ba này theo khoản 2 Điều 13 và khoản 2 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020. Thêm vào đó, khi áp dụng các quy định này, ngay cả trong trường hợp công ty bị xử phạt vi phạm hành chính (chẳng hạn do vi phạm pháp luật cạnh tranh, pháp luật quảng cáo...) do lỗi của người đại diện theo pháp luật thì cũng có thể khởi kiện trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật.

4. Doanh nghiệp phải đảm bảo tính thường trực của người đại diện theo pháp luật

Doanh nghiệp phải đảm bảo luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.

Trường hợp hết thời hạn ủy quyền mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thì thực hiện theo quy định sau đây:

- Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trở lại làm việc tại doanh nghiệp;

- Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần , công ty hợp danh trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của công ty trở lại làm việc tại công ty hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, hội đồng thành viên, quyết định cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;

Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, trốn khỏi nơi cư trú, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thì thành viên còn lại12 đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.

Trừ trường hợp nêu trên, đối với doanh nghiệp chỉ còn một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

5. Quy định xử phạt vi phạm về người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp

Theo quy định tại Điều 51, Nghị định 122/2021/NĐ-CP:

Các hành vi vi phạm quy định pháp luật về người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp bao gồm:

- Không có người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam;

- Không ủy quyền bằng văn bản cho người khác làm đại diện hoặc ủy quyền bằng văn bản đã hết hạn nhưng không gia hạn khi người đại diện theo pháp luật duy nhât của doanh nghiệp xuất cảnh khỏi Việt Nam;

- Người đại diện theo ủy quyền không đủ tiêu chuẩn theo quy định;

Ủy quyền vượt quá số lượng người được ủy quyền tối đa theo quy định của pháp luật.

Đối với các hành vi này Doanh nghiệp sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau:

- Buộc đăng ký người đang cư trú tại Việt Nam làm người đại diện của doanh nghiệp nếu không có người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam;

- Buộc ủy quyền cho người khác làm đại diện nếu không ủy quyền bằng văn bản cho người khác làm đại diện hoặc ủy quyền bằng văn bản đã hết hạn nhưng không gia hạn khi người đại diện theo pháp luật duy nhât của doanh nghiệp xuất cảnh khỏi Việt Nam;

c) Buộc thay đổi người đại diện đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định nếu người đại diện theo ủy quyền không đủ tiêu chuẩn theo quy định.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê