1. Quy định pháp luật về doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Trong hệ thống kinh tế của một quốc gia, Nhà nước thường tham gia và nắm giữ một số doanh nghiệp với tỷ lệ 100% vốn điều lệ. Điều này đồng nghĩa với việc toàn bộ vốn điều lệ của các doanh nghiệp này được sở hữu và quản lý bởi Nhà nước. Nhà nước, trong vai trò là cổ đông duy nhất, có quyền kiểm soát và quyết định trong các hoạt động của các doanh nghiệp này. Các loại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đa dạng và phong phú. Đầu tiên, chúng ta có các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, và trong số đó có công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế nhà nước. Công ty mẹ này chịu trách nhiệm quản lý và sở hữu các tập đoàn kinh tế quan trọng của Nhà nước. Tiếp theo, có công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty mẹ của tổng công ty nhà nước. Loại công ty này là cơ cấu quản lý và sở hữu tổng công ty, đảm bảo sự liên kết và hiệu quả trong hoạt động của tổng công ty.
Ngoài ra, còn có công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con. Loại công ty này là công ty mẹ trong một nhóm các công ty mẹ - công ty con, giữ vai trò điều phối và hỗ trợ cho các công ty con trong nhóm. Ngoài ra, chúng ta còn có công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập, hoạt động độc lập và không phụ thuộc vào bất kỳ công ty mẹ nào. Điều này giúp công ty này linh hoạt trong việc quản lý và điều hành các hoạt động kinh doanh. Cuối cùng, hệ thống kinh tế của một quốc gia cũng bao gồm các tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Những tổ chức này đảm nhận nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ tài chính, cho vay và quản lý tài sản. Quyền kiểm soát và quyết định trong các hoạt động của tổ chức tín dụng này thuộc về Nhà nước. Như vậy, việc Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ trong một số loại doanh nghiệp là một chiến lược quan trọng trong việc quản lý và phát triển kinh tế của quốc gia.
Quy định pháp luật về doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ dựa trên các văn bản hướng dẫn và luật liên quan của Việt Nam. Các văn bản trên điều chỉnh về cơ cấu quản lý, tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước 100% vốn điều lệ, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý Nhà nước và các cơ quan liên quan đối với doanh nghiệp này. Chúng cũng quy định về việc phân phối lợi nhuận, trích lập các quỹ khen thưởng, phúc lợi và thưởng cho người quản lý doanh nghiệp và kiểm soát viên trong doanh nghiệp Nhà nước. Ngoài ra, các văn bản này cũng có các quy định liên quan đến đánh giá và giám sát hoạt động của doanh nghiệp để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc quản lý tài chính của doanh nghiệp Nhà nước.
2. Phân phối lợi nhuận đối với Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Theo các quy định của pháp luật hiện hành, doanh nghiệp thực hiện việc phân phối lợi nhuận theo các quy định tại tại Thông tư 36/2021/TT-BTC và Điều 31 của Nghị định 91/2015/NĐ-CP. Phân phối lợi nhuận đối với doanh nghiệp (DN) do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được thực hiện dựa trên các quy định của pháp luật và các hướng dẫn từ cơ quan quản lý Nhà nước. Quy trình phân phối lợi nhuận có sự tham gia của các cơ quan quản lý cấp trên và cấp dưới, đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc quản lý tài chính của doanh nghiệp Nhà nước.
(1) Lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định dựa trên quy định của pháp luật về kế toán sau khi đã bù đắp lỗ năm trước theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp. Sau đó, lợi nhuận còn lại sẽ trích Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Phần lợi nhuận còn lại sẽ được phân phối theo quy định. Lợi nhuận của doanh nghiệp nhà nước sau khi bù đắp lỗ năm trước theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, trích Quỹ phát triển khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, phần lợi nhuận còn lại được phân phối theo thứ tự như sau:
- Chia lãi cho các bên góp vốn liên kết theo quy định của hợp đồng kinh tế đã ký kết (nếu có).
- Bù đắp khoản lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế theo quy định.
- Lợi nhuận còn lại được phân phối theo thứ tự như sau:
+ Trích quỹ đặc thù theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ (nếu có).
+ Trích tối đa 30% vào quỹ đầu tư phát triển của doanh nghiệp.
+ Trích quỹ khen thưởng, phúc lợi cho người lao động trong doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp xếp loại A được trích 3 tháng lương thực hiện cho hai quỹ khen thưởng, phúc lợi;
- Doanh nghiệp xếp loại B được trích 1,5 tháng lương thực hiện cho hai quỹ khen thưởng, phúc lợi;
- Doanh nghiệp xếp loại C được trích 01 tháng lương thực hiện cho hai quỹ khen thưởng, phúc lợi;
- Doanh nghiệp không thực hiện xếp loại thì không được trích lập hai quỹ khen thưởng, phúc lợi.
+ Trích quỹ thưởng người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên:
- Doanh nghiệp xếp loại A được trích 1,5 tháng lương thực hiện của người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên;
- Doanh nghiệp xếp loại B được trích 01 tháng lương thực hiện của người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên;
- Doanh nghiệp xếp loại C hoặc doanh nghiệp không thực hiện xếp loại thì không được trích lập quỹ thưởng người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên.
+ Trường hợp số lợi nhuận còn lại sau khi trích lập Quỹ đầu tư phát triển tối đa 30% mà không đủ nguồn để trích các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên theo mức quy định thì doanh nghiệp được giảm trừ phần lợi nhuận trích lập quỹ đầu tư phát triển để bổ sung nguồn trích lập đủ quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên theo mức quy định, nhưng mức giảm tối đa không quá mức trích vào Quỹ đầu tư phát triển trong năm tài chính.
+ Lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ được nộp về ngân sách nhà nước.
(2) Cơ chế để trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ thưởng cho người quản lý doanh nghiệp và kiểm soát viên được xác định như sau:
- Các doanh nghiệp được xếp loại A, B, C dựa trên quy định của Chính phủ về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và các doanh nghiệp có vốn nhà nước, cũng như các hướng dẫn của Bộ Tài chính. Đối với việc trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, căn cứ vào quỹ tiền lương trong năm tài chính của người lao động của doanh nghiệp, đã được phê duyệt và xác định theo quy định tại Nghị định 51/2016/NĐ-CP về quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có), chia (:) cho 12 tháng.
- Đối với trường hợp doanh nghiệp thực hiện cơ chế tiền lương, tiền thưởng đặc thù, quy định riêng của Chính phủ sẽ được áp dụng. Đối với việc trích lập quỹ thưởng người quản lý doanh nghiệp và kiểm soát viên, căn cứ vào quỹ tiền lương, thù lao trong năm tài chính của họ đã được chủ sở hữu phê duyệt và xác định theo quy định về tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với Người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có), chia (:) cho 12 tháng. Đối với trường hợp doanh nghiệp thực hiện cơ chế tiền lương, tiền thưởng đặc thù, quy định riêng của Chính phủ sẽ được áp dụng. Tóm lại, nội dung trên cung cấp thông tin về việc phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp dựa trên các quy định của pháp luật, cũng như cơ chế trích lập các quỹ khen thưởng, phúc lợi và thưởng người quản lý doanh nghiệp và kiểm soát viên
3. Quy định pháp luật về khai, nộp lợi nhuận còn lại của Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Thông tư 85/2021/TT-BTC không quy định cụ thể về khai, nộp lợi nhuận còn lại, chỉ dẫn chiếu thực hiện theo pháp luật về quản lý thuế. Hiện nay, các nội dung khai, nộp lợi nhuận còn lại đã được quy định cụ thể: Lợi nhuận còn lại là khoản thu Ngân sách Nhà nước khai quyết toán năm (chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng thứ 3 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính. Người nộp thuế phải tự xác định số lợi nhuận còn lại tạm nộp quý chậm nhất vào ngày 30 của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ nộp. Đối với hoạt động xổ số kiến thiết, xổ số điện toán:
+ Trường hợp người nộp thuế có nhiều hoạt động kinh doanh trong đó có hoạt động xổ sổ kiến thiết, xổ số điện toán thì phải lập hồ sơ khai lợi nhuận sau thuế còn lại riêng cho hoạt động xổ số kiến thiết, xổ số điện toán.
+ Người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế quý nhưng phải xác định số thuế tạm nộp hàng quý để nộp tiền lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của hoạt động kinh doanh xổ số điện toán tại từng tỉnh nơi có hoạt động kinh doanh xổ số điện toán.
+ Người nộp thuế khai quyết toán khoản lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của hoạt động kinh doanh xổ số điện toán trên toàn quốc và nộp hồ sơ khai theo mẫu số 01/QT-LNCL, phụ lục bảng phân bố số lợi nhuận còn lại phải nộp cho các địa phương được hưởng nguồn thu đối với hoạt động kinh doanh xổ số điện toán theo mẫu số 01-1/QT-LNCL cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp; nộp số tiền phân bổ cho từng tỉnh nơi có hoạt động kinh doanh xổ số điện toán theo quy định.
+ Số lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ phải nộp cho từng tỉnh nơi có hoạt động kinh doanh xố số điện toán bằng (=) số lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ phải nộp của hoạt động kinh doanh xổ số điện toán nhân (x) với tỷ lệ (%) doanh thu bán vé thực tế từ hoạt động kinh doanh xổ số điện toán tại từng tỉnh trên tổng doanh thu bán vé thực tế của người nộp thuế.
+ Doanh thu bán vé thực tế từ hoạt động kinh doanh xổ số điện toán được xác định như sau: Trường hợp phương thức phân phối vé xổ số điện toán thông qua thiết bị đầu cuối: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh xổ số điện toán phát sinh từ các thiết bị đầu cuối đăng ký bán vé xổ số điện toán trong địa giới hành chính từng tỉnh theo hợp đồng đại lý xổ số đã ký với công ty xổ số điện toán hoặc các cửa hàng, điểm bán vé do người nộp thuế thiết lập trên địa bàn.
Trường hợp phương thức phân phối vé xổ số điện toán thông qua điện thoại và internet: Doanh thu được xác định tại từng tỉnh nơi khách hàng đăng ký tham gia dự thưởng khi mở tài khoản dự thưởng theo quy định của pháp luật về kinh doanh xổ số điện toán. Trường hợp số thuế đã tạm nộp theo quý nhỏ hơn số thuế phải nộp phân bổ cho từng tỉnh theo quyết toán thuế thì người nộp thuế phải nộp số thuế còn thiếu cho từng tỉnh. Trường hợp số thuế đã tạm nộp theo quý lớn hơn số thuế phải nộp phân bổ cho từng tỉnh thì được xác định là số thuế nộp thừa và xử lý theo quy định tại Điều 60 Luật Quản lý thuế 2019 và Điều 25 Thông tư 80/2021/TT-BTC.
Quý khách hàng có thể tham khảo bài viết dưới đây: Quy trình cổ phần hoá doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Trên đây là chia sẻ của luật Minh Khuê về chủ đề "Quy định về phân phối lợi nhuận với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ" Mong rằng bài viết trên của chúng tôi sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn. Bạn đọc nếu có bất kỳ thắc mắc nào vui lòng liên hệ tổng đài 1900.6162 của chúng tôi để được tư vấn trực tiếp, giải đáp thắc mắc một cách nhanh chóng và kịp thời. Quý khách hàng có yêu cầu báo giá dịch vụ tư vấn vui lòng gửi yêu cầu về địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Cảm ơn bạn đọc đã quan tâm theo dõi nội dung tư vấn của chúng tôi. Xin trân trọng cảm ơn quý khách.