1. Thực trạng thu hồi đất ở nước ta

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại hội thảo “Nông dân bị thu hồi đất - Thực trạng và giải pháp”, cho thấy: Trong 5 năm, từ năm 2001 - 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm 3,89% đất nông nghiệp đang sử dụng), trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dụng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha; theo thống kê cho đến tháng 8/2010, Việt Nam có 254 khu công nghiệp với tổng diện tích 68.800 ha và 15 khu kinh tế với tổng diện tích 627.623 ha. Việc thu hồi đất này đã tác động đến gần 627.495 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và ảnh hưởng đến đời sống khoảng hơn 2,5 triệu người. Thực tế cho thấy, do mất đất sản xuất, mất nơi định cư đã làm cho người bị thu hồi đất không có nghề nghiệp ổn định, mất đi nơi sản xuất kinh doanh sau khi bị thu hồi đất. Như chúng ta đã biết: Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ và xuất phát từ tuyên bố Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, cùng với các quyền công dân khác được Hiến pháp ghi nhận: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác. Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở”. Vì vậy, Nhà nước luôn có chính sách về xóa đói, giảm nghèo, chăm lo cho người dân có nơi ở, nơi sản xuất mới tốt hơn so với trước khi bị thu hồi đất. Mục tiêu tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất ổn định cuộc sống, sản xuất và tạo việc làm.

Thu hồi đất không chỉ làm chấm dứt mối quan hệ pháp luật đất đai (làm chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất) mà còn liên quan đến lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan: Lợi ích của người bị thu hồi đất; lợi ích của Nhà nước, của xã hội; lợi ích của người hưởng lợi từ việc thu hồi đất (các nhà đầu tư, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân…). Do vậy trên thực tế việc giải quyết hậu quả của việc thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp. Việc giải quyết tốt vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất sẽ mang lại ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện. Hãy cùng tìm hiểu ý nghĩa về mặt chính trị và kinh tế - xã hội của việc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.

2. Chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất có ý nghĩa gì về phương diện chính trị?

Là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề đất đai ở Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và nhạy cảm. Các chính sách, pháp luật về đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định về chính trị. Điều này có nghĩa là nếu chủ trương, chính sách pháp luật đất đai đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và được thực thi nghiêm túc sẽ góp phần vào việc duy trì và củng cố sự ổn định chính trị. Ngược lại, sẽ làm phát sinh những điểm nóng tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định về chính trị. Một trong các chính sách, pháp luật về đất đai được xã hội quan tâm đó là chính sách, pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; bởi lẽ mảng chính sách, pháp luật này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất. Trong trường hợp bị thu hồi đất quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trực tiếp bị xâm hại. Họ không chỉ mất quyền sử dụng đất mà còn buộc phải di chuyển chỗ ở. Hậu quả là cuộc sống thường nhật của họ bị đảo lộn. Với quan niệm truyền thống của người Việt Nam có an cư mới lạc nghiệp thì việc bị mất đất đai, nhà cửa thực sự ảnh hưởng rất lớn đối với người bị thu hồi đất. Do vậy, họ phản ứng rất gay gắt, quyết liệt thông qua việc khiếu nại đông người, khiếu kiện vượt cấp, kéo dài nếu không được Nhà nước hỗ trợ thỏa đáng. Các khiếu kiện về đất đai nói chung là khiếu khiện về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị và dễ phát sinh thành các điểm nóng; cho nên việc giải quyết tốt vấn đề hỗ trợ là thực hiện tốt chính sách an dân để phát triển kinh tế xã hội góp phần vào việc duy trì, củng cố về sự ổn định của chính trị.

3. Chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất có ý nghĩa gì về phương diện kinh tế - xã hội?

Thực tiễn cho thấy, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất luôn là công việc khó khăn, phức tạp. Các dự án chậm triển khai thực hiện theo tiến độ đề ra có nguyên nhân do công tác hỗ trợ không nhận được sự đồng thuận từ phía người bị Nhà nước thu hồi đất. Xét dưới góc độ kinh tế, dự án chậm triển khai thực hiện ngày nào là chủ đầu tư, các doanh nghiệp bị thiệt hại đáng kể về lợi ích kinh tế do máy móc, vật tư, thiết bị không đưa vào hoạt động được, người lao động không có việc làm trong khi doanh nghiệp vẫn phải trả lương, trả chi phí duy trì các hoạt động thường xuyên và trả lãi xuất vay vốn từ ngân hàng… Vì vậy, thực hiện tốt công tác hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là điều kiện để doanh nghiệp sớm có mặt bằng triển khai các dự án đầu tư góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế và nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, kinh doanh ở nước ta. Để duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững sẽ có điều kiện để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần vào cuộc xóa đói, giảm nghèo và tạo tiền đề cho các bước phát triển tiếp theo. Về phía người sử dụng đất, thực hiện tốt vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất sẽ giúp cho người bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định cuộc sống để tập trung sản xuất góp phần cải thiện và nâng cao mức sống. Hơn nữa điều này giúp củng cố niềm tin của người bị thu hồi đất vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời loại trừ cơ hội để kẻ xấu lợi dụng, tuyên truyền, xuyên tạc, kích động quần chúng nhân dân khiếu kiện nhằm gây mất ổn định tình hình trật tự an toàn xã hội và làm đình trệ sản xuất.

4. Cơ sở pháp lý của việc thực thi chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Từ sau Luật Đất đai năm 2003, các nghị định của Chính phủ đã cụ thể hoá nhiều chính sách quan trọng về thu hồi đất, trước hết là Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Văn bản này nhằm tạo ra một chính sách bồi thường công khai, minh bạch và đáp ứng các lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất. Tuy nhiên, qua thực tế thực hiện, vấn đề lớn nhất trong các quy định về bồi thường và hỗ trợ chính là thu xếp cuộc sống và việc làm ổn định cho người lao động. Bởi vậy, Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/1/2006 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số Điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần đã quy định cụ thể về việc bố trí đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp cho người bị thu hồi từ trên 30% diện tích đất nông nghiệp, Với quy định này, người lao động khi bị mất một diện tích khá lớn đất nông nghiệp và khó khăn về tư liệu sản xuất thì sẽ được bố trí đất kinh doanh dịch vụ ở vị trí thuận lợi để có nguồn sông và thu nhập. Đây là một chính sách thể hiện sự quan tâm từ phía nhà nước đối với thực trạng một bộ phận người lao động bị mất đất hoặc thiếu đất nông nghiệp hiện nay có được sự hỗ trợ cần thiết để an cư và ổn định cuộc sống.

Để tiếp tục hoàn thiện các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. Văn bản này lần đầu tiên chi tiết hoá quy trình, thủ tục về thu hồi đất, một vấn đề quan trọng mà các Nghị định trước đây của Chính phủ không đề cập tối hoặc đề cập một cách không đầy đủ. Từ đó, các địa phương đã từng bước nâng mức bồi thường và hỗ trợ cho người dân khi bị thu hồi đất, đặc biệt là các chính sách về hỗ trợ. Hà Nội trong những năm qua có những quy định rất cụ thể về vấn đề này, ví dụ Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29 tháng 8 năm 2008 của ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội, Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29 tháng 09 năm 2009 của ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm cụ thể hoá Nghị định của Chính phủ.

Thực tế, các quy định về bồi thường, hỗ trợ vẫn chưa đáp ứng đúng yêu cầu về mặt lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người bị thu hồi đất. Trong quyền lợi chung này, người bị thu hồi đất vẫn là người bị thiệt thòi nhất, kế đến là lợi ích nhà nước. Trong khi đó địa tô chênh lệch doanh nghiệp là người hưởng lợi nhiều nhất khi được Nhà nước giao đất để thực hiện dự án đầu tư. Do đó, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhằm cụ thể hoá hơn nữa các quy định về bồi thường và hỗ trợ phù hợp vối giá đất trên thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại các địa phương. Nghị định này có hiệu lực pháp lý từ ngày 01/10/2009 và gây các phản ứng khác nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp và những thay đổi có lợi hơn cho người bị thu hồi đất, đặc biệt là các chính sách về hỗ trợ. Nói cách khác, chính sách hỗ trợ có nhiều quy định mới và đáp ứng tốt hơn các lợi ích của người bị thu hồi đất.

5. Cơ sở pháp lý của việc thực thi chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất khi Luật đất đai 2013 ra đời

Ngày 29/11/2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 thay thế Luật Đất đai năm 2003, trong đó quy định sửa đổi, bổ sung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Cụ thể hóa các quy định này, ngày 15/5/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Đến ngày 30/6/2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông Tư số 37/2014/TT-BTNMT quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 13/8/2014.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)