1. Quyền lợi sau khi chấm dứt hợp đồng lao động là gì ?

Chào luật sư, xin hỏi: Hiện tại tôi đã làm thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động với công ty cũ đúng theo luật định trước 45 ngày và hiện tại tôi đã nghỉ việc được nửa tháng nhưng chưa nhận được quyết định thôi việc cũng như các thủ tục về bảo hiểm.
Vì vậy tôi muốn hỏi trong thời gian 3 tháng tôi có việc làm khác thì có được hưởng bảo hiểm thất nghiệp hay không? Các thủ tục nộp cho bên trung tâm việc làm thì có được hưởng BHTN 1 lần không?
Trân trọng và cảm ơn luật sư.
Người gửi: P.P

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hởi đến cho Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau.

Thứ nhất, việc chấm dứt hợp đồng giữa bạn và công ty thuộc một trong các trường quy định tại điều 41 Bộ luật lao động 2019 thì được hưởng trợ cấp thôi việc và trách nhiệm người sử dụng lao động như sau:

Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trlại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trtrợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Nhưng trên thực tế trường hợp của bạn thì công ty đã không thực hiện đúng theo quy định này.

Thứ hai, điều kiện để được hưởng BHTN theo quy định của Luật Việc làm năm 2013.

Điều 46. Hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.

2. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày trung tâm dịch vụ việc làm tiếp nhận đủ hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; trường hợp không đủ điều kiện để hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp thì phải trả lời bằng văn bản cho người lao động.

3. Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Nếu trong trường hợp trong 3 tháng bạn tìm được việc mà thời gian tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 và đáp ứng các điều kiện quy định tại điều 49 Luật Việc làm 2013 thì bạn được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Trong trường hợp, bạn tìm được việc làm tại thời điểm trước 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì sẽ không được hưởng BHTN. Khi đã hưởng BHTN rồi thì thời gian đóng BHTN không được tính cho lần đóng BHTN tiếp theo.

Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.

Điều 50. Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà hợp pháp mới 2020 ?

2. Bị ốm có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không ?

Chào luật sư, mong luật sư tư vấn giúp tôi một sự việc như sau: Tháng 10 tôi bắt đầu bị ốm nặng và điều trị đến bây giờ đã hơn 3 tháng nhưng vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục, bây giờ tôi muốn làm đơn chấm dứt hợp đồng khi hợp đồng vẫn còn thời hạn thì phải làm thế nào ạ?
Cảm ơn!

1. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

Căn cứ theo quy định tại Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019 (sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) như sau:

Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trướctrong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Theo quy định trên thì khi người lao động bị ốm đau đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn mà khả năng lao động chưa được hồi phục thì người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên khi chấm dứt người lao động sẽ phải thông trước cho người sử dụng lao động biết trước nhất là 3 ngày làm việc.

Dẫn chiếu đến trường hợp của bạn thì tháng 10 bạn bắt đầu bị ốm nặng và điều trị đến bây giờ đã hơn 3 tháng nhưng vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục. Do đó theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, bạn được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải thông báo cho công ty biết trước ít nhất 3 ngày làm việc theo quy định.

2. Quyền và nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Khi muốn chấm dứt hợp đồng lao động trước khi hợp đồng hết hạn vì lý do ốm đau bạn nhớ phải báo trước cho người sử dụng lao độgn theo đúng quy định của pháp luật. Nếu bạn không thực hiện đúng thì sẽ bị coi là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và sẽ không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước. Ngoài ra bạn còn phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Bộ luật lao động 2019.

Khi bạn chấm dứt hợp đồng lao động, công ty có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Khoản 3 Điều 48 Bộ luật lao động năm 2019 (sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) như sau:

Điều 48. Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:

a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tkhác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;

b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả.

Khi bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, công ty có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của bạn trong thời hạn tối đa là 30 ngày. Đồng thời, phải hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động. Do đó, nếu công ty không thực hiện là công ty vi phạm pháp luật về lao động. Bạn có thể khiếu nại đến phòng lao động – thương binh và xã hội nơi công ty có trụ sở để đảm bảo quyền lợi cho mình.

Như vậy, đối với trường hợp của bạn, khi bạn bị ốm đau điều trị dài ngày bạn được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất 3 ngày làm việc, khi bạn chấm dứt hợp đồng lao động thì công ty có trách nhiệm trả sổ và những giấy tờ khác mà công ty giữ của bạn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hỏi về hoàn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với hợp đồng thử việc ?

3. Chấm dứt hợp đồng lao động là như thế nào ?

Thưa luật sư, Hi vọng công ty luật Minh Khuê tư vấn giúp tôi, Tôi làm việc tại công ty có ký kết hợp đồng 1 năm và có quyết định tiếp nhận đầy đủ. Chưa hết một năm, tôi có lý do không thể đi làm nên đã viết đơn xin nghỉ và báo trước cho giám đốc trước 15 ngày đúng như quy định trong hợp đồng đã ký kết. Trước khi nghỉ việc, tôi đã bàn giao đầy đủ công việc và hồ sơ mình quản lý, hai bên đã ký kết xong biên bản bàn giao và mỗi bên giữ một bản. Tuy nhiên, công ty không trả lương tôi vì lý do biên bản bàn giao chưa đầy đủ (đã ký kết xong và bàn giao xong trước đó).
Tôi có yêu cầu giải thích và nói rõ xem tôi bàn giao thiếu những gì thì nhận được câu trả lời không rõ ràng và yêu cầu tôi bổ sung hoặc tìm lại những giấy tờ hiện đang thiếu (những giấy tờ đó do phòng tôi quản lý chứ tôi không trực tiếp quản lý, cũng không có ai bàn giao những giấy tờ đó cho tôi khi tôi đến nhận việc). Công ty tôi không tham gia công đoàn huyện, vậy tôi nên làm như thế nào để lấy được lương của mình ?
Tôi xin cảm ơn

Luật sư tư vấn:

Tại khoản 2 điều 47 Bộ luật lao động năm 2019 (sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) quy định:" Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày". Bạn bắt đầu thôi việc từ ngày 10/3/2019 đến nay là 15/7/2019 tức là 4 tháng 5 ngày kể từ ngày bạn bắt đầu thôi việc mà công ty vẫn chưa thanh toán tiền nợ lương hai tháng cho bạn vượt quá thời hạn tối đa 37 ngày theo quy định của pháp luật. Như vậy công ty của bạn đã vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Căn cứ theo điềuĐiều 31 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

1. Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoà giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động; về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất khẩu lao động.

Tranh chấp của bạn là tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động không thuộc trường hợp không phải qua hòa giải viên lao động vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bạn cần tiến hành các công việc sau:

- Gửi đơn đến công ty yêu cầu công ty thanh toán nợ lương và đưa ra một thời hạn nhất định nếu hết thời hạn đó mà công ty không thanh toán thì bạn gửi đơn đến sở lao động thương binh và xã hội yêu cầu hòa giải viên lao động giải quyết.

- Sau thời hạn 5 ngày nếu hòa giải viên lao động không giải quyết hoặc hòa giải không thành thì bạn có quyền gửi đơn yêu cầu tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty đóng trụ sở giải quyết.

Còn về mẫu form khởi kiện bạn có thể tham khảo Mẫu đơn đề nghị giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động

Xin chào luật sư! Em làm cho 1 công ty tnhh nước ngoài,hiện nay công ty em đang gặp khó khăn do bị cắt mất đơn hàng,vì thế thời gian tới công ty em không có việc. Giám đốc nhà em muốn cắt giảm công nhân, và trong thời gian khoảng 2 tháng cho 100 công nhân đó nghỉ việc không trả lương cho họ nhưng vẫn đóng các khoản bảo hiểm. em hỏi nhu thế có được không ạ? em cảm ơn!

>> Căn cứ vào khoản 2,3 điều 44 Bộ luật lao động thì trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dung lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lapo động theo quy định tại điều 46 của Bộ luật lao động

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

3. Việc cho thôi việc đối với nhiều người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.

Đồng thời điều 7 thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXXH quy định trách nhiệm thông báo của người sử dụng lao động vì lý do kinh tế như sau:

Thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh khi thay đổi cơ cấu, công nghệ và lý do kinh tế

1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo bằng văn bản trước 30 ngày, kể từ ngày gửi thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh biết trước khi tiến hành cho thôi việc từ 02 người lao động trở lên theo quy định tại Khoản 3 Điều 13 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP.

2. Văn bản thông báo quy định tại Khoản 1 Điều này phải có những nội dung chủ yếu sau:

a) Tên, địa chỉ của người sử dụng lao động và người đại diện theo pháp luật của người sử dụng lao động;

b) Tổng số lao động; số lao động cho thôi việc;

c) Lý do cho người lao động thôi việc; thời điểm người lao động thôi việc;

d) Kinh phí dự kiến chi trả trợ cấp mất việc làm.

3. Cơ quan lao động cấp tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận, theo dõi, kiểm tra việc cho thôi việc đối với nhiều người lao động của người sử dụng lao động.

Như vậy, Với trường hợp của công ty bạn. Nếu vì lý do kinh tế mà bắt buộc phải cho người lao động nghỉ việc thì công ty phải trợ cấp mất việc làm cho người lao động bạn nhé

4. Trách nhiệm của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

Kính gửi Luật sư. Em là cá nhân từng làm việc cho một trang thông tin điện tử của một công ty về Thẩm mỹ. Sau thời gian làm việc nhận thấy không sự nhất trí trong công việc nên em đã xin nghỉ việc và được sự đồng ý của người quản lý nhân sự. Họ hứa rằng lương vẫn sẽ chi trả vào tài khoản của em đúng theo bình thường. Tuy nhiên, đến ngày nhận lương thì không thấy. Em có phản ánh thì nhận được câu trả lời rằng "Chủ doanh nghiệp nói sẽ giữ lương của em, tạm thời chưa chi trả cho em" và hứa sẽ kiểm tra lại, có phản hồi. Tuy nhiên, nhiều lần em điện thoại yêu cầu làm rõ, người phụ trách nhân sự đều nói bận, không tiếp. Bên cạnh đó, sau 3 tháng là việc tại trang thông tin điện tử đó, em vẫn chưa được chi trả nhuận bút của tháng nào. Tổng số tiền lương và nhuận bút lên tới khoảng 13 triệu VNĐ. Qua đây cho hỏi, để khởi kiện doanh nghiệp này, em cần những giấy tờ gì? Theo em được biết, trước đó cũng có rất nhiều người bị công ty này không trả lương. Cùng thời điểm này của em cũng có 1 người khác không được nhận lương như em. Xin cảm ơn luật sư!

Tại khoản 2 điều 47 Bộ luật lao động quy định:" Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày." đã 3 tháng kể từ ngày bạn bắt đầu thôi việc mà công ty vẫn chưa thanh toán tiền nợ lương hai tháng cho bạn vượt quá thời hạn tối đa 37 ngày theo quy định của pháp luật. Như vậy công ty của bạn đã vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Căn cứ theo Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

Điều 26. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.

2. Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.

3. Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này.

5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.

6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

7. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính.

8. Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước.

9. Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng.

10. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí.

11. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

12. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

13. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

14. Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Tranh chấp của bạn là tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động không thuộc trường hợp không phải qua hòa giải viên lao động vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bạn cần tiến hành các công việc sau:

- Gửi đơn đến công ty yêu cầu công ty thanh toán nợ lương và đưa ra một thời hạn nhất định nếu hết thời hạn đó mà công ty không thanh toán thì bạn gửi đơn đến sở lao động thương binh và xã hội yêu cầu hòa giải viên lao động giải quyết.

- Sau thời hạn 5 ngày nếu hòa giải viên lao động không giải quyết hoặc hòa giải không thành thì bạn có quyền gửi đơn yêu cầu tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty đóng trụ sở giải quyết.

5. Giao kết hợp đồng lao động và kỳ hạn trả lương

Thưa luật sư xin luật sư cho biết : công nhân khi làm viec được 2 năm nhưng không ký hợp đồng .tự nhiên cho nghỉ không lý do .giám đốc nói hết hàng giảm lao động trường hợp này người lao động được hưởng gì nếu như công ty không bồi thường cho nghỉ việc vui lòng chỉ giúp công nhân phải làm gì để kiện công ty cám ơn nhiều

Đối với trường hợp của bạn, trước tiên về vấn đề bạn làm việc cho công ty Giải Pháp số với thời gian làm việc là 2 năm nhưng không được công ty ký hợp đồng lao động.

Theo Khoản 2 Điều 13, Điều 14 Bộ luật lao động năm 2019 (sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) quy định về việc giao kết hợp đồng lao động như sau:

Điều 13. Hợp đồng lao động

2. Trước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

Điều 14. Hình thức hợp đồng lao động

2. Hai bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của Bộ luật này.

Căn cứ quy định nêu trên thì công ty đã vi phạm pháp luật về lao động. Theo đó, bạn có thể yêu cầu với lãnh đạo công ty thực hiện các thủ tục ký kết hợp đồng lao động. Trong trường hợp công ty này từ chối, bạn có quyền làm đơn khiếu nại đến Phòng Lao động - thương binh và xã hội cấp quận/huyện nơi công ty đóng trụ sở để nhờ can thiệp hoặc khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền để được giải quyết.

Về vấn đề công ty thiếu nợ lương của bạn: Theo quy định của Bộ luật lao động:

Điều 97. Kỳ hạn trả lương

1. Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.

2. Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn đnh vào một thời điểm có tính chu kỳ.

3. Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.

4. Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trlên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương

Điều 94. Nguyên tắc trả lương

1. Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.

2. Người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định

Như vậy, về vấn đề này công ty phải trả lương đúng hạn theo thỏa thuận với người lao động. Trường hợp vì lý do bất khả kháng không thể trả được lương cho người lao động thì được chậm trả lương nhưng không được trả chậm quá 1 tháng, và sẽ phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.

Tại khoản 1 điều 48 Bộ luật lao động quy định "Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày". Theo quy định này bạn xác định thời gian bắt đầu thôi việc của bạn. Nếu từ ngày bạn xin thôi việc, chấm dứt hợp đồng lao động đã quá 30 ngày mà công ty vẫn chưa thanh toán tiền nợ lương cho bạn thì có thể xác định công ty của bạn đã vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Căn cứ theo Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án:

Điều 26. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.

2. Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.

3. Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này.

5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.

6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

7. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính.

8. Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước.

9. Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng.

10. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí.

11. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

12. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

13. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

14. Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Tranh chấp của bạn là tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động không thuộc trường hợp không phải qua hòa giải viên lao động vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bạn cần tiến hành các công việc sau:

- Gửi đơn đến công ty yêu cầu công ty thanh toán nợ lương và đưa ra một thời hạn nhất định nếu hết thời hạn đó mà công ty không thanh toán thì bạn gửi đơn đến sở lao động thương binh và xã hội yêu cầu hòa giải viên lao động giải quyết.

- Sau thời hạn 5 ngày nếu hòa giải viên lao động không giải quyết hoặc hòa giải không thành thì bạn có quyền gửi đơn yêu cầu tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty đóng trụ sở giải quyết.

Thưa luật sư, Bảo vệ ký hợp đồng lao động từ ngày 01/8, đến ngày 31/8 chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng ngày 24/ 8 nhân được đơn xin nghỉ việc với lý do sức khỏe yếu. Luật sư cho hỏi, người sử dụng lao động có cần làm thông báo chấm dứt hợp đồng lao động hay không? vậy thời gian thông báo là thời gian nào? bao lâu thì nhà trường ký lại hợp đồng bảo vệ khác.

Vì bạn không nêu rõ hợp đồng lao động của bạn thuộc loại hợp đồng lao động có xác định thời hạn hay hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Điều 34 Bộ luật lao động 2019 quy định về các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

Điều 34. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do theo quy định tại khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

5. Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

6. Người lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết. Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thi.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật này.

11. Người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo quy định tại Điều 42 và Điều 43 của Bộ luật này.

12. Giấy phép lao động hết hiệu lực đối với người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

13. Trường hợp thỏa thuận nội dung thviệc ghi trong hợp đồng lao động mà thử việc không đạt yêu cầu hoặc một bên hủy bỏ thỏa thuận thử việc.

Như vậy, khi có một trong các lý do trên thì bạn có thể đơn phương chấm dứt họp đồng lao động . Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bạn phải thông báo cho người sử dụng lao động. Việc thông báo được thực hiện như sau:

- Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp hợp đồng mùa vụ;

- Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng;

- Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn thì thời gian báo trước là 45 ngày.

>> Xem thêm:  Trong thời gian thử việc có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không ?