1. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện đương sự

Đối với người đại diện theo pháp luật và người đại diện do toà án chỉ định tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích cho đương sự là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự do bản thân đương sự không thể tự thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích của mình cho nên người đại diện theo pháp luật và người đại diện do toà .ăn chi định được thực hiện tất cả các quyên và nghĩa vụ tô tụng của đương sự mà họ đại diệh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Đối với người đại diện theo uỷ quyện của đương sự tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự là người có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Bần thân đương sự cũng có thể tự thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ. Do vậy, người đậi diện theo uỷ quyền của đương sự chỉ thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong phặm vi uỷ quyền. Những hănh vi của người đại diện vượt quá phạm vi uỷ quyền đều không có giá trị pháp lý. Để bảo đàm hoạt động tố tụng của người đại diện không xâm phạm đến lợi ích của đương sự được đại diện, trong trường hợp công nhận, từ bỏ, thay đổi yêu cầu tố tụng v.v. pháp luật tố tụng dân sự một số nước còn quy định phải được sự đồng ý của đương sự đã uỷ quyền.

Quyền và nghĩa vụ của người đại diện được quy định tại Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy chưa quy định được cụ thể như pháp luật tố tụng các nước nhưng Điều luật này cũng đã quy định được những vấn đề cơ bản liên quan đến quyền, nghĩa vụ cửa người đại diện.

2. Quy định Áp dụng lẽ công bằng cho đương sự

Theo Điều 45 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

“Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và sự bình đắng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó”.

Lẽ công bằng được hiểu là nguyên tắc để Toà án giải quyết vụ việc khi không có các nguồn luật điều chỉnh như luật, tập quán, tương tự pháp luật, án lệ và các bên không thỏa thuận được để giải quyết vụ việc. Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó. Việc giải quyết vụ việc theo lẽ công bằng xuất phát từ chính lương tâm và nhận thức của các thẩm phán.

Lẽ công bằng là căn cứ áp dụng cuối cùng khi không có luật để áp dụng, không có tập quán giải quyết vụ việc, không áp dụng được tương tự pháp luật cũng như chưa có án lệ phù hợp. Nguyên tắc áp dụng án lệ và lẽ công bằng để giải quyết các tranh chấp lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều này góp phần đảm bảo cho các chủ thể được giải quyết các tranh chấp tại Tòa mà không bị từ chối; đồng thời tăng cường trách nhiệm cho các cơ quan, cá nhân có trách nhiệm trong việc giải quyết các tranh chấp. Việc giải quyết các quan hệ dân sự dựa trên lẽ công bằng đòi hỏi trình độ chuyên môn cũng như sự vô tư, khách quan và đạo đức nghề nghiệp của các vị thẩm phán.

Việc áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật, áp dụng án lệ và lẽ công bằng nhằm khắc phục những lỗ hổng trong pháp luật dân sự khi trên thực tế có các quan hệ dân sự phát sinh nhưng không có các quy phạm pháp luật điều chỉnh, tuy nhiên cần phải giải quyết tranh chấp đó. Việc áp dụng này cũng sẽ tạo tiền đề để các nhà lập pháp hoàn thiện và bổ sung hệ thống pháp luật.

>> Xem thêm:  Nghĩa vụ công dân là gì ? Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo hiến pháp năm 2013

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của đương sự cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê